vanban.org

Bản án 01/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T.

Buộc bị đơn bà Bùi Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Dương Thị T số tiền 35.326.000 đồng (Ba mươi lăm triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Kể từ ngày Bản án có hiệu lực thi hành và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn không chấp hành thì phải chịu lãi suất chậm trả đối với khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Thảo - Xuân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày 23/01/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh, ông Nguyễn Sỹ Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Niê Đoan Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 118/2024/TLST-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị T; địa chỉ: Số A N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Bùi Thị X; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn P; địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn P trong quá trình giải quyết vụ án: Năm 2021 bà Bùi Thị X nhiều lần mua cám (thức ăn gia súc, gia cầm) của bà Dương Thị T, quá trình mua cám bà X có nợ lại bà T số tiền 35.326.000 đồng (theo giấy nhận nợ ngày 30/3/2021), đối vơi số nợ trên đã nhiều lần bà T yêu cầu bà X phải có nghĩa vụ thanh toán nợ, tuy nhiên bà X cố tình chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do đó, bà Dương Thị T làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị X phải có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 35.326.000 đồng.

- Theo lời khai của bị đơn bà Bùi Thị X trong quá trình giải quyết vụ án:

Đối với bị đơn bà Bùi Thị X trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên bà X vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Dương Thị T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự; bị đơn bà Bùi Thị X không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại Tòa án nhiều lần nhưng không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, tại phiên tòa hôm nay nhưng bà X vẫn vắng mặt không có lý do, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt do đó HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Bùi Thị X và nguyên đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 357; Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Bùi Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Dương Thị T số tiền 35.326.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, do đó bị đơn bà Bùi Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

, Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp: Đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, bị đơn bà Bùi Thị X có địa chỉ tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn bà Bùi Thị X và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

Đối với bị đơn bà Bùi Thị X, sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa, nhưng bà X vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của bà X đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên đã có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt bà Bùi Thị X và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn P theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

, Về nội dung vụ án:

Năm 2021 bà Bùi Thị X có phát sinh việc mua cám (thức ăn gia súc, gia cầm) với bà Dương Thị T, quá trình mua bán đến ngày 30/3/2021 các bên tiến hành đối chiếu công nợ, quá trình đối chiếu bà Bùi Thị X còn nợ lại của bà Dương Thị T số tiền 35.326.000 đồng, đối với số nợ trên đã nhiều lần bà T yêu cầu bà X phải có nghĩa vụ thanh toán, nhưng bà X không thực hiện, do đó các bên phát sinh tranh chấp.

Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”.

, Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Bùi Thị X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 35.326.000 đồng cho bà Dương Thị T là đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên mua, do đó việc bà Dương Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Dương Thị T số tiền 35.326.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tại phiên toà là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần được chấp nhận.

[4] Về án phí DSST: Do yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T được chấp nhận nên bà Bùi Thị X phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 357, Điều 430 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T.

Buộc bị đơn bà Bùi Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Dương Thị T số tiền 35.326.000 đồng (Ba mươi lăm triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực thi hành và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn không chấp hành thì phải chịu lãi suất chậm trả đối với khoản tiền chậm thi hành theo lãi suất quy định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Buộc bà Bùi Thị X phải chịu 1.766.300 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mười sáu nghìn ba trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Cỡ chữ