vanban.org

Bản án 01/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chúc-Nga - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật sử…"
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng hình sự Tuyên lưu trữ kèm thèo hồ sơ; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 05/01/2024

HUYỆN HÒA VANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duy Cửu Bà Lê Thị Hồng. - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh - Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 01/TB-TA ngày 25/12/2023, đối với các bị cáo: 1. Nguyễn Thị Viết C, sinh ngày 02/8/1979, tại thành phố Đà Nẵng Nơi cư tr : Thôn X xã Hòa S huyện Hòa V T Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; trình đ học vấn: 7/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đ (Đã chết và bà Nguyễn Thị T (Còn sống ; gia đình có 06 anh chị em bị cáo là con thứ hai bị cáo có chồng tên Nguyễn D và có 02 con, con lớn sinh năm 1998 con nhỏ sinh năm 2001. Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa. 2. Hà Thị Th y N, sinh ngày 14/10/1986, tại thành phố Đà Nẵng Nơi cư tr : Thôn X xã Hòa S huyện Hòa V T Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; trình đ học vấn: 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà S và bà Nguyễn Thị L (Cả hai đều còn sống ; gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ nhất bị cáo có chồng tên hạm H và có 01 con sinh năm 2007; Tiền án tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 2 / /2022 bị TAND huyện Hòa Vang xử phạt 08 năm tù về t i a chi m t t i n và 0 năm tù t i m i c n d t i i của c an t ch c . T ng hình phạt phải chấp hành: 12 năm tù. Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Bình Điền trong vụ án khác; có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Bà Nguyễn L sinh năm 1970; có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Thôn A, xã Hòa S, huyện Hòa V T .Đà Nẵng. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn D sinh năm 1978; có mặt Địa chỉ: Thôn X, xã Hòa S huyện Hòa V T .Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa n i dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Thị Th y N và Nguyễn Thị Viết C có mối quan hệ là chị em con dì ru t (N là chị và ở gần nhà nhau. Từ đầu năm 2020 C nợ bên ngoài xã h i m t số tiền nhưng không có khả năng trả và nhiều lần đã có người đến nhà C để đòi nợ. Đến giữa năm 2020 C và N gặp nhau tại m t địa chỉ không nhớ rõ thu c xã Hoà S huyện Hoà V T . Đà Nẵng. L c này C biết N có thể làm giả được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nói N làm cho C 01 (m t giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên và lý lịch cá nhân C để C mang đi thế chấp mượn tiền trả nợ N đồng ý. C đưa cho N số tiền khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (cả hai đều không nhớ rõ số tiền cụ thể . Sau đó N sử dùng điện thoại di đ ng của mình để lên mạng xã h i Facebook tìm trang mạng làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi hai bên nhắn tin trao đ i thông tin với nhau. N đã cung cấp thông tin thửa đất lý lịch cá nhân của C, số điện thoại cá nhân của mình để trang mạng này làm giả 01 (m t giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai bên thống nhất số tiền làm giả là 10.000.000đ (mười triệu đồng) và sẽ nhận hàng sau 10 ngày tại m t địa chỉ hẹn trước. Khoảng 10 ngày sau có m t người giao hàng điện thoại cho N đến nhận hàng tại m t địa chỉ trên đường Nguyễn Hữu Thọ thành phố Đà Nẵng (N và C không nhớ rõ địa chỉ cụ thể . Nhận được điện thoại N đến nhà chở C đến điểm hẹn để nhận hàng. Tại đây N để C đứng ngoài đường Nguyễn Hữu Thọ còn mình đi b vào trong m t kiệt gặp m t người giao hàng nhận 01 (m t Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR852001 cấp cho thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 diện tích 1 0m2 mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh 1979, Chứng minh nhân dân số 201 16273; địa chỉ thường tr : Xã Hoà S huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm. N đưa cho người giao hàng số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) rồi mang Giấy này ra xe đưa cho C mang về nhà cất giữ. Đến ngày 18/6/2020 C mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nói trên đến gặp bà Nguyễn L, sinh năm 1970; tr : Thôn A, xã Hoà S huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng để hỏi vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) trong thời hạn hai tháng. Bà L yêu cầu phải có tài sản thế chấp mới cho vay tiền. C đưa cho bà L m t chứng minh nhân dân số 201 16273 mang tên Nguyễn Thị Viết C và m t giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nói trên để cầm cố cho bà L và nói dối thửa đất này là của mình. Bà L kiểm tra thấy thông tin trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chứng minh nhân dân của C giống nhau nên tin tưởng đưa cho số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và yêu cầu C viết m t giấy mượn tiền (trước khi viết giấy các bên thỏa thuận viết giấy mượn tiền không viết giấy vay tiền và thỏa thuận miệng lãi suất C phải trả hằng tháng . Đến thời hạn trả nợ C không trả tiền và bà L nhiều lần yêu cầu nhưng C vẫn không trả nợ. Qua tìm hiểu bà L biết được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên là giả. Đến ngày 16/01/2023, bà L đã làm đơn tố giác t i phạm gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà Vang. Quá trình điều tra Nguyễn Thị Viết C và Hà Thị Thuý N đã khai nhận hành vi phạm t i của mình. Tan vật th iữ: - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR8 2001, thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 diện tích: 1 0m ; mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh 1979, Chứng minh nhân dân số 201 16273; địa chỉ thường trú: Xã Hoà S huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm. - 01 bản photo Chứng minh nhân dân số 201 16273 mang tên bà Nguyễn Thị Viết Ch c và 01 bản photo Giấy mượn số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) ghi ngày 18/6/2020 có chữ ký và tên Nguyễn Thị Viết C. Tại Kết luận giám định số: 282/KL-KTHS ngày 0 / /2023 của hòng K thuật hình sự - Công an T Đà Nẵng kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số CR8 2001 thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 có địa chỉ tại thôn X xã Hòa S huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng mang tên Nguyễn Thị Viết Ch c là giả. dân : Đến ngày 13/7/2023 Nguyễn Thị Viết C đã trả lại cho bà Nguyễn L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); trong đó: ngày 20/3/2023 trả 10.000.000 đồng, ngày 13/7/2023 trả 20.000.000 đồng. Bà L đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo C. Với n i dung trên, tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo: - Nguyễn Thị Viết C về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” theo điểm d khoản 2 Điều 3 1 và t i “ a chi m t t i n” theo khoản 1 Điều 17 đều của B luật Hình sự. - Hà Thị Thuý N về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” theo khoản 1 Điều 341 của B luật Hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị H i đồng xét xử: T yên bố: - Bị cáo Nguyễn Thị Viết C phạm về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” và t i “ a chi m t t i n”. - Bị cáo Hà Thị Thuý N phạm về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c”. - Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 3 1 điểm s khoản 1 Điều 1 của B luật Hình sự về t i“ m i c n d t i i của c an t ch c” và khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 1 của B luật Hình sự về t i “ a chi m t t i n” đối với bị cáo Nguyễn Thị Viết C. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Viết C mức án từ 02 (hai năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Viết C mức án từ 01 (m t) năm đến 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù về t i “ a chi m t t i n”. Áp dụng Điều của B luật Hình sự, t ng hợp hình phạt của hai t i đối với bị cáo Nguyễn Thị Viết C. Bu c bị cáo C phải chấp hành mức từ 03 (ba năm 03 (ba tháng đến 03 (ba năm 09 (chín tháng tù. - Áp dụng: Khoản 1 Điều 3 1, điểm s khoản 1 Điều 1 của B luật Hình sự đối với bị cáo Hà Thị Thuý N. Xử phạt bị cáo Hà Thị Thuý N mức án từ 09 (chín tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c”. Áp dụng Điều 6 của B luật Hình sự, t ng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo Hà Thị Thuý N. N i ra tr n vụ án còn có: - Đối với vai trò của Hà Thị Thuý N liên quan hành vi phạm t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Viết C. Quá trình điều tra xác định N đồng ý làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho C, sau khi nhận được giấy chứng nhận N đã giao cho C mang về nhà cất giữ đến ngày 18/6/2020 C mang đi thế chấp vay tiền của bà Nguyễn L 30.000.000 đồng N không biết và không gi p sức gì nên hành vi của N không đồng phạm với C về t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ nên không xem xét. - Đối với đối tượng đã làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho N, C và đối tượng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho N. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là có căn cứ nên không xem xét. xử ý vật ch n : - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR8 2001 cấp cho thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 diện tích 150m , mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh 1979, Chứng minh nhân dân số 201 16273; địa chỉ thường tr : Xã Hoà S, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm là tang vật chứng của vụ án nên đề nghị H i đồng xét xử tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án. - 01 bản photo Chứng minh nhân dân số 201 16273, mang tên Nguyễn Thị Viết Ch c và 01 bản photo Giấy mượn số tiền 30.000.000 đồng ghi ngày 18/6/2020 có chữ ký và tên Nguyễn Thị Viết C. Đây là bản phô tô và là tang vật của vụ án hiện Đng nằm trong hồ sơ nên đề nghị H i đồng xét xử tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án. dân : Ngày 13/7/2023 Nguyễn Thị Viết C đã trả lại cho bà Nguyễn L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Bà L đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo C nên không đề cập giải quyết. T i phiên tòa á trình xét hỏi bị cá C và N thừa nhận hành vi phạm t i như trong bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Bị cá nói ời a cùn : Bị cáo N biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận. Kính mong H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo ở mức án thấp nhất để có cơ h i làm người có ích cho xã h i và sớm về với gia đình. Bị cáo C biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận. Bị cáo xin H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo ở mức án thấp nhất để có cơ h i làm người có ích cho xã h i và sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa H i đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Tại phiên tòa người bị hại bà Nguyễn L đã được Tòa án triệu tập, nhưng bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai. Do vậy việc vắng mặt của bà L không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 B luật Tố tụng hình sự, H i đồng xét xử xét xử vắng mặt của bà L. [1.2] Về tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố xét xử: Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật. [1.3] Hiện tại bị cáo Nguyễn Thị Viết C Đng được tại ngoại với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư tr tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình nhưng tại thời điểm điều tra bị cáo luôn quanh co không nhận t i làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án. Hơn nữa trong vụ án này bị cáo C bị khởi tố và truy tố về hai t i danh là t i a chi m t t i n” theo khoản 1 Điều 17 của B luật Hình sự ở khung hình phạt ít nghiêm trọng và t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” theo điểm d khoản 2 Điều 3 1 B luật Hình sự ở khung hình phạt nghiêm trọng. Do đó để đảm bảo cho việc thi hành án H i đồng xét xử xét thấy cần phải thay đ i biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr sang biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn đối với bị cáo C. [2] Về n i dung vụ án: [2.1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Viết C và Hà Thị Thuý N khai nhận hành vi phạm t i lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Tháng 06/2020 Nguyễn Thị Viết C và Hà Thị Thuý N đã làm giả 01 (m t Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mang tên Nguyễn Thị Viết Ch c số CR8 2001, cấp cho thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 có địa chỉ tại thôn X xã Hòa S huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng với mục đích để C mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 18/6/2020 tại thôn A, xã Hoà S huyện Hoà Vang, C sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên và đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt của bà Nguyễn L số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị Viết C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 và t i “ a chi m t t i n” theo khoản 1 Điều 17 đều của B luật Hình sự. Hành vi của Hà Thị Thuý N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố về t i “ m i c n d t i i của c an t ch c” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của B luật Hình sự. Như Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang T . Đà Nẵng là hoàn toàn có căn cứ đ ng người đ ng t i và đ ng pháp luật. [2.2] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn Thị Viết C và Hà Thị Thuý N thì thấy: Bị cáo C và bị cáo N đều là những người đã trưởng thành có sức khỏe, có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc làm sai trái của bản thân nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra. [2.2.1] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm t i làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức của bị cáo Nguyễn Thị Viết C và bị cáo Hà Thị Thuý N thì thấy: Hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CR8 2001, cấp cho thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61, diện tích: 150m2 mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh: 1979, Chứng minh nhân dân số: 201 16273; địa chỉ thường trú: Xã Hoà S huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm của bị cáo C và bị cáo N thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật và đã xâm phạm đến hoạt đ ng đ ng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước t chức trong hoạt đ ng quản lý hành chính. Xét về vai trò của bị cáo C và bị cáo N thì thấy: Trong vụ án này bị cáo C biết rõ bị cáo N không phải là người trong cơ quan nhà nước cũng không phải là người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo C không có diện tích đất 150m2 tại địa chỉ: Thôn X, xã Hoà S huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng nhưng vì nợ tiền ngoài xã h i bị chủ nợ thúc ép và đòi nhiều lần dẫn đến muốn có tiền trả nợ cho chủ nợ nên khi biết N là người làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả bị cáo C đã chủ đ ng nhờ bị cáo N làm bị cáo C cung cấp thông tin thửa đất lý lịch cá nhân và số tiền khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (không nhớ rõ số tiền cụ thể để N cung cấp cho bên làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy bị cáo C là người trực tiếp đề xướng bị cáo N làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên C. Đối với bị cáo N, do ở chỗ quan hệ là chị em con dì ru t (N là chị và ở gần nhà nhau nên biết C nợ tiền ngoài xã h i không có khả năng trả nên khi nghe bị cáo C nhờ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đã đồng ý Ny bị cáo N là người sử dụng điện thoại di đ ng của mình để lên mạng xã h i Facebook tìm trang mạng làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi hai bên nhắn tin trao đ i thông tin với nhau thỏa thuận giá cả thời gian địa điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cung cấp thông tin của C và số điện thoại để hai bên L hệ qua lại sau khi có giấy bị cáo N là người trực tiếp nhận điện thoại rồi đến nhà báo và chở bị cáo C đến địa điểm nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo N là người trực tiếp đến nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và giao số tiền 10.000.000 đồng cho người giao giấy chứng nhận (hiện không rõ nhân thân lai lịch người làm và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo N giao lại cho bị cáo C và bị cáo C mang về nhà cất giữ sau đó bị cáo N không biết về những việc làm tiếp theo của bị cáo C. Do đó cả bị cáo C và bị cáo N đều phạm vào t i m i c n d t i i của c an t ch c” theo quy định tại Điều 3 1 B luật Hình sự. Đối với bị cáo C, đến ngày 18/6/2020 mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đi thế chấp vay của bà Nguyễn L với số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng N không biết và không gi p sức gì cho C. Do đó hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn Thị Viết C trong trường hợp này thu c tình tiết định khung hình phạt là “Sử dụn c n d t i i h ặc i y tờ khác th c hi n tội ph m ít n hiêm trọn h ặc tội ph m n hiêm trọn ” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 B luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Hà Thị Thuý N thu c tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 3 1 B luật Hình sự. [2.2.2] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm t i lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Viết C thì thấy: Ngày 18/6/2020 bị cáo C mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CR8 2001 cấp thửa đất số 72, tờ bản đồ số 61 mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh: 1979, Chứng minh nhân dân số: 201 16273 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm; địa chỉ thường tr : Xã Hoà S huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng giả đến gặp bà Nguyễn L, sinh năm 1970; tr : Thôn A, xã Hoà S huyện Hoà Vang T . Đà Nẵng để hỏi vay số tiền 30.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng. Bà L yêu cầu phải có tài sản thế chấp mới cho vay tiền. Bị cáo C đưa cho bà L 01 chứng minh nhân dân số 201 16273 mang tên Nguyễn Thị Viết C và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nói trên để cầm cố cho bà L và nói dối thửa đất này là của mình nên hành vi phạm t i của bị cáo C thu c tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 17 của B luật Hình sự. Hành vi của bị cáo C thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật và đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo. - Bị cáo Nguyễn Thị Viết C phạm hai t i nên H i đồng xét xử áp dụng Điều 55 của B luật Hình sự t ng hợp hình phạt của hai t i. - Bị cáo Hà Thị Thuý N Đng chấp hành án 12 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào Điều 6 của B luật Hình sự H i đồng xét xử t ng hợp với bản án mới bu c bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. [2.2.3] Từ những phân tích trên H i đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo m t mức án nghiêm khắc đ ng với tính chất hành vi phạm t i của từng bị cáo cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã h i m t thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. [2.3] Xét về nhân thân tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Thị Viết C và bị cáo Hà Thị Thuý N thì thấy: Cả bị cáo C và bị cáo N đều là người đã trưởng thành chưa có tiền án tiền sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tôi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 1 B luật Hình sự H i đồng xét xử áp dụng cho bị cáo C và N. Ngoài ra, trong t i lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo C đã bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn L, bà L đã nhận đủ số tiền và không còn yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo C. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại b khoản 1, khoản 2 Điều 1 B luật Hình sự, H i đồng xét xử áp dụng cho bị cáo C. Riêng đối với bị cáo N là người có nhân thân xấu, ngày 2 / /2022 bị TAND huyện Hòa Vang xử phạt 08 năm tù về t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 0 năm tù t i Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức . T ng hình phạt phải chấp hành là 12 năm tù hiện Đng chấp hành án phạt tù tại Trại giam Bình Điền. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [2. ] H i đồng xét xử xét thấy ngoài hình phạt chính cần thiết áp dụng hình phạt b sung là hình phạt tiền để sung công qu Nhà nước đối với các bị cáo, qua đó nhằm cải tạo giáo dục cũng như để răn đe phòng ngừa chung. [2.5] Các bị cáo C và N tuy cùng thực hiện m t hành vi phạm t i làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức nhưng khi thực hiện hành vi không có sự cấu kết, phân công vai trò giữa từng người nên hành vi của bị cáo C và N chỉ là đồng phạm giản đơn. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang không truy tố các bị cáo theo tình tiết phạm t i có t chức là có căn cứ pháp luật. [3] Ngoài ra trong vụ án còn có: - Đối với vai trò của bị cáo Hà Thị Thuý N với hành vi phạm t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Viết C: Quá trình điều tra xác định N đồng ý làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho C; sau khi nhận được giấy chứng nhận N đã giao cho C mang về nhà cất giữ và đến ngày 18/6/2020 C mang đi thế chấp vay tiền của bà Nguyễn L 30.000.000 đồng N không biết và không gi p sức gì nên hành vi của N không đồng phạm với C về t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, do đó H i đồng xét xử không xem xét. - Đối với đối tượng đã làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho N, C và đối tượng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho N: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này nên tiếp tục điều tra xử lý sau là có căn cứ nên H i đồng xét xử không xem xét. [4] Về xử lý vật chứng: - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR8 2001, cấp cho thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 diện tích: 150m , mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh 1979, Chứng minh nhân dân số: 201 16273; địa chỉ thường tr : Xã Hoà S, huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm. Đây là tang vật của vụ án nên H i đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ. - 01 bản photo Chứng minh nhân dân số 201 16273 mang tên bà Nguyễn Thị Viết Ch c và 01 bản photo Giấy mượn số tiền 30.000.000 đồng ghi ngày 18/6/2020 có chữ ký và tên Nguyễn Thị Viết C. Đây là tăng vật của vụ án nên H i đồng xét xử tuyên lưu trữ kèm theo hồ sơ. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Viết C đã trả lại cho bà Nguyễn L số tiền 30.000.000 đồng. Bà L đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên H i đồng xét xử không đề cập đến. [6] H i đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng, cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên H i đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình. [7] Về án phí hình sự: Bị cáo C và bị cáo N mỗi bị cáo phải 200.000 đồng theo quy định. ì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Thị Viết C phạm t i Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức và phạm t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản . - Bị cáo Hà Thị Thuý N phạm t i Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức . [2] Căn cứ: - Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Viết C. - Điểm d khoản 2 Điều 3 1; điểm s khoản 1 Điều 1 của B luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Viết C. - Khoản 1 Điều 3 1; điểm s khoản 1 Điều 1 của B luật Hình sự đối với bị cáo Hà Thị Thuý N. [3] Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Thị Viết C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về t i Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức và 01 (m t) năm 03 (ba) tháng tù về t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản . Căn cứ vào Điều của B luật Hình sự 201 . T ng hợp hình phạt chung của 02 t i bu c bị cáo Nguyễn Thị Viết C phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. - Bị cáo Hà Thị Thuý N 01 (m t) năm tù về t i Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan t chức . Căn cứ vào Điều 6 của B luật Hình sự, t ng hợp 12 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng với bản án mới bu c bị cáo Hà Thị Thuý N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 13 (mười ba năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2022. (Hiện bị cáo N Đng chấp hành án tại trại giam Bình Điền). [4] Về hình phạt b sung: - Căn cứ khoản Điều 341 của B luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Viết C 10.000.000đ (mười triệu đồng để sung công qu Nhà nước. Xử phạt tiền bị cáo Hà Thị Thuý N 10.000.000đ (mười triệu đồng để sung công qu Nhà nước. - Căn cứ khoản Điều 17 của B luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Viết C 10.000.000đ (mười triệu đồng để sung công qu Nhà nước. [5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 7 của B luật Hình sự Điều 106 B luật Tố tụng hình sự Tuyên lưu trữ kèm thèo hồ sơ vụ án: - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR8 2001, thửa đất số 72 tờ bản đồ số 61 mang tên Nguyễn Thị Viết C năm sinh: 1979 Chứng minh nhân dân số: 201 16273; địa chỉ thường trú: Xã Hoà S huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp không có ngày tháng năm. - 01 bản photo Chứng minh nhân dân số 201 16273, mang tên bà Nguyễn Thị Viết Ch c và 01 bản photo Giấy mượn số tiền 30.000.000 đồng ghi ngày 18/6/2020 có chữ ký và tên Nguyễn Thị Viết C. (Các vật chứng trên hiện Đng kèm theo hồ sơ vụ án). [6] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 B luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bu c bị cáo Nguyễn Thị Viết C và Hà Thị Thuý N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng . [7] Về kháng cáo: Báo cho các bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ L quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/01/2024. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 1 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ. Trườn hợp b n án y t ịnh ược thi h nh the y ịnh t i Đi 2 ật Thi h nh án dân thì n ười ược thi h nh án dân n ười ph i thi h nh án dân có y n thỏa th ận thi h nh án y n yê cầ thi h nh án t n y n thi h nh án h ặc bị cưỡn ch thi h nh án the y ịnh t i các i 6 7 v 9 ật Thi h nh án dân ; thời hi thi h nh án ược th c hi n the y ịnh t i Đi 30 ật thi h nh án dân .

Cỡ chữ