vanban.org

Bản án 01/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 12/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Phú B. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Phạm Quang D, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H. Sửa Bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Phạm Phú B 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Phú B. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 01/2024/HS-PT
Ngày: 12/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 201/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Phú B và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Phú B, sinh ngày: 14/02/1992 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: K34/x đường Lê Hữu T, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Phú B1 (chết) và bà Tôn Nữ Thị H (còn sống); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 24/02/2023, có mặt.

2. Nguyễn Đức A, sinh ngày: 25/11/1992 tại Gia Lai; nơi cư trú: B2-15 đường A, tổ x phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức B và bà Nguyễn Thị P; có vợ và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 20/6/2023 được tại ngoại, có mặt.

3. Lý Đức M, sinh ngày: 14/11/1997 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Số 1 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Nhân viên khách sạn; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lý Minh H và bà Võ Thị Túy L; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 14/4/2023 được tại ngoại, có mặt.

4. Phan Văn Thành Đ, sinh ngày: 06/01/1997 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ 44 phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 14/7/2023, có mặt.

5. Nguyễn Quốc H, sinh ngày: 24/10/2002 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Số 1 đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Cứu Q và bà Huỳnh Thị Thu H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 27/02/2023 được tại ngoại, có mặt.

6. Phạm Quang D, sinh ngày: 14/6/1992 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Thôn N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn K và bà Đặng Thị G; có vợ và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 20/6/2023 được tại ngoại, có mặt.

7. Giang Văn T, sinh ngày: 20/8/1992 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Số 1 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Thiết kế nội thất; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Giang Văn A và bà Võ Thị Bích T; có vợ và có 02 (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 14/4/2023 được tại ngoại, có mặt.

8. Nguyễn Hữu Nhật L, sinh ngày: 21/01/2001 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Lô 1 đường K7, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Nghĩa N và bà Trương Thị Nhã T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 27/02/2023 được tại ngoại, có mặt.

9. Lưu Ánh S, sinh ngày: 15/3/1994 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Số 1 đường M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lưu Đình N và bà Nguyễn Thị P; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

10. Nguyễn Trường H, sinh ngày: 29/3/2002 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Số 1 đường T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trường T và bà Lê Thị Hồng P; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Phú B: Ông Lê Hữu Phúc – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Hữu Phúc và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H: Ông Trần Tuấn Lợi – Luật sư Công ty Luật TNHH 2TV Hoa Tiêu, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Thành Đ: Ông Đinh Văn Thắng – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Legal Ding, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Huỳnh Kim L, Trương Xuân H, Đặng Anh T (đã rút đơn kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu năm 2023, tại quán cà phê Time địa chỉ số xx đường A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng, Phạm Phú B đã nhiều lần tổ chức cho nhiều người đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “poker xì tố” sử dụng phỉnh chip để chơi thay tiền mặt nhưng không nhớ chính xác số tiền tổ chức đánh bạc trái phép từng ngày, từng người chơi, thắng thua, chỉ xác định được 05 ngày từ ngày 20/02/2023 đến 24/02/2023 tổ chức cho nhiều người chơi và được B ghi lại trong 05 tờ giấy A4 thể hiện nội dung người chơi, số phỉnh chip qui đổi bằng tiền, việc thắng thua, người chia bài và số tiền người chơi cho người chia bài - “Tip”.

Hình thức chơi: Những người chơi sử dụng bài “Tây” 52 lá chơi đánh bạc bằng hình thức chơi bài Poker và qui ước: 01 điểm chip tương đương 1.000 đồng, cụ thể: Phỉnh 5 chíp tương đương 5.000 đồng, phỉnh 10 chíp tương đương 10.000 đồng, phỉnh 50 chíp tương đương 50.000 đồng, phỉnh 100 chíp tương đương 100.000 đồng và phỉnh 500 chíp tương đương 500.000 đồng. Mỗi người chơi đánh bài poker “Xì tố” sát phạt ăn thua bằng tiền với nhau bằng cách: Lượt đầu tiên mỗi người chơi được chia 02 lá, sau đó tiếp tục chia thêm 05 lá trên bàn trong 03 lượt (lượt 01 là 03 lá, lượt 02 là 01 lá, lượt 03 là 01 lá), từng lượt chia thì những người chơi sẽ tiến hành tố với nhau, ai theo thì tố bằng hoặc hơn người tố trước còn không theo thì bỏ bài. Sau đó, những người chơi còn tham gia đến lượt sau cùng thì lấy 02 lá bài úp đầu tiên ghép với 05 lá bài lật trên bàn rồi tự chọn ra 5 lá bài lớn nhất để tính thắng thua theo hình thức tương tự như bài Binh xập xám (Cụ thể các chi từ lớn đến nhỏ: Thùng phá sảnh > tứ quý > cù lũ > thùng > sảnh > xam > thú > dách > mậu).

Tiền “xâu” thì B qui ước với người chơi trích 01% tổng số tiền của người thắng cuối cùng đối với ván thắng trên 500 điểm chip tương đương 500.000 đồng. Ngoài ra, đối với từng ván chơi thì người chơi ở vị trí thứ nhất và thứ hai phải chịu tiền chết (tiền đặt cược cố định) lần lượt là 05 và 10 điểm chip tương đương với 5.000 đồng và 10.000 đồng. Sau mỗi buổi chơi, B sẽ chuyển tiền thắng, thua bạc cho người chơi thông qua tài khoản Ngân hàng Vietcombank của B số tài khoản: 9909241402; một số trường hợp khác sau khi chơi xong số tiền thắng thua bạc sẽ được B tính nợ và sẽ chuyển sau cho người chơi.

Khi chơi bạc, số phỉnh chip của người chơi nhận được một lần qui đổi không được vượt quá 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, trong quá trình chơi thì người chơi có quyền được ứng thêm số phỉnh chip nhưng phải kết thúc ván chơi và không được quá giới hạn điểm chip nêu trên. Người chơi có thể nghỉ giữa chừng, thay vào hoặc thay ra và ứng chip từ B hoặc người chia bài –“Dealer” rồi tiếp tục tham gia chơi bạc với những người còn lại; việc thay thế như trên xảy ra trong suốt quá trình chơi bạc từ lúc bắt đầu chơi cho đến khi kết thúc. Trong lúc chơi bạc, người chơi tùy ý “Tip” phỉnh chip cho người chia bài, bao nhiêu thì tùy thuộc vào người chơi.

Trong quá trình tổ chức đánh bạc trái phép, Phạm Phú B là người đứng ra chuẩn bị địa điểm, bàn ghế, dụng cụ chơi bài Poker (thảm chiếu Poker, phỉnh chip các loại, bài Tây), phát phỉnh chíp cho người chơi, thu lại phỉnh chip, phân định thắng thua cho người chơi. Do biết B tổ chức đánh bạc trái phép tại quán cà phê Time nên “Dũng” (không rõ nhân thân, lai lịch) và Trần Thị T2 (SN: 2004; trú: Tổ 1, P.Nng, Q. S, TP.Đà Nẵng) xin B vào chia bài (được gọi là “Dealer”) cho những người chơi để được người chơi cho phỉnh chíp – “Tip” và quy đổi thành tiền để hưởng lợi thì B đồng ý. Ngày 18/02/2023, B đi du lịch nên có nhờ T2 đến chia bài cho người chơi trong 02 ngày 20/02/2023 và 21/02/2023 thì T2 đồng ý. Trong 02 ngày trên, người chơi vẫn đến quán cà phê Time và tự lấy dụng cụ chơi bài Poker để chơi bạc được thua bằng tiền, T2 là người đổi phỉnh chip cho người chơi, ghi lại số phỉnh chíp thắng thua vào tờ giấy A4 và chia bài cho người chơi (riêng ngày 21/02/2023, T2 nhờ “Dũng” chia bài cho T2). Cuối buổi chơi, T2 chụp lại kết quả chơi bạc trong ngày gửi cho B để B chuyển tiền thắng thua cho những người chơi bạc trong ngày. Số tiền “xâu” thu được B đã sử dụng vào việc mua dụng cụ tổ chức đánh bạc như mua bài, thảm và đã tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình điều tra, xác định được tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc, số tiền thắng, thua, tiền “xâu”, tiền “tip” trong 05 ngày, cụ thể:

1. Lần thứ nhất, vào ngày 20/02/2023: Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 16 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Giang Văn T, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Đặng Anh T và Xune (Trang), Dũng, B Nhân, Huy, Tâm, Tài, Tiến, A Tý, Trung (L) Đ Long (L) và Thành (chưa rõ nhân thân, lai lịch); người chia bài (Dealer) là “T2”. Tổng số chip B đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 53.000 chip tương đương 53.000.000 đồng; tổng số chip người chơi còn lại sau khi kết thúc ngày chơi là: 50.100 chip tương đương 50.100.000 đồng; tiền “xâu” thu được là 1.350 chip tương đương 1.350.000 đồng; tiền “Tip” người chơi cho Dealer – “T2” là: 1.550 chip tương đương 1.550.000 đồng. Số phỉnh chip những người chơi tham gia, thắng thua và chuyển tiền thắng thua qua tài khoản ngân hàng cho B sau buổi chơi, cụ thể như sau: Nguyễn Đức A đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua hết. Giang Văn T đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thắng 2.400.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 200.000 đồng. Phan Văn Thành Đ đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 1.500.000 đồng. Đặng Anh T đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thua 1.200.000 đồng. Dũng đổi 1.500 điểm chip tương đương 1.500.000 đồng, chơi hòa. Xune đổi 2.500 điểm chip tương đương 2.500.000 đồng, chơi thắng 2.600.000 đồng. B Nhân đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 300.000 đồng. Huy đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 300.000 đồng. Tâm đổi 9.000 điểm chip tương đương 9.000.000 đồng, chơi thua hết. Tài đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thắng 2.250.000 đồng. Tiến đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua 2.000.000 đồng. A Tý đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thua 100.000 đồng. Trung (L) đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 2.600.000 đồng. Đ. Long (L) đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thắng 1.400.000 đồng. Thành đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 1.450.000 đồng.

Trong ngày này, B đã chuyển khoản số tiền thắng bạc 1.500.000 đồng cho Phan Văn Thành Đ, 2.600.000 đồng cho Xune (Trang); Đặng Anh T chuyển số tiền 1.200.000 đồng, Tâm chuyển số tiền 9.000.000 đồng thua bạc cho B. Đối với những người chơi thắng, thua còn lại chưa chuyển khoản và B cho nợ.

2. Lần thứ hai vào ngày ngày 21/02/2023: Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 18 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Nguyễn Hữu Nhật L, Nguyễn Trường H, Huỳnh Kim L, Nguyễn Quốc H, Phạm Quang D và Lưu Ánh S và Hưng, Tâm, Tài, Huy (Lớn), A Tý, Tiến, Thành, Trung, Trung (nhỏ) (chưa rõ nhân thân, lai lịch); người chia bài (Dealer) là “Dũng”. Tổng số chip B đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 58.000 chip tương đương 58.000.000 đồng; tổng số chip người chơi còn lại sau khi kết thúc ngày chơi là 55.450 chip tương đương 55.450.000 đồng; tiền “xâu” thu được là 950 chip tương đương 950.000 đồng; tiền “Tip” người chơi cho Dealer – “Dũng” là: 1.600 chip tương đương 1.600.000 đồng. Số phỉnh chip những người chơi tham gia, thắng thua và chuyển tiền thắng thua qua tài khoản ngân hàng cho B sau buổi chơi, cụ thể như sau: Nguyễn Đức A đổi 1.500 điểm chip tương đương 1.500.000 đồng, chơi thắng 3.000.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 2.400.000 đồng. Phan Văn Thành Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 4.300.000 đồng. Nguyễn Hữu Nhật L đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua hết. Nguyễn Trường H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua hết. Huỳnh Kim L đổi 3.500 điểm chip tương đương 3.500.000 đồng, chơi thua 1.900.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi hòa. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi hòa. Lưu Ánh S đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc nhưng chưa kịp chơi thì mọi người nghỉ. Hưng đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thua 400.000 đồng. Tâm đổi 7.000 điểm chip tương đương 7.000.000 đồng, chơi thua 3 3.750.000 đồng. Tài đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 900.000 đồng. Huy (Lớn) đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 1 1.500.000 đồng. A Tý đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thua hết. Tiến đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.600.000 đồng. Thành đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 350.000 đồng. Trung đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.850.000 đồng. Trung (nhỏ) đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thua 400.000 đồng.

Trong ngày này, Tâm chuyển số tiền thua bạc 3.750.000 đồng cho B. Đối với những người chơi thắng, thua còn lại chưa chuyển khoản và B cho nợ.

3. Lần thứ ba vào ngày 22/02/2023: Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 18 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Giang Văn T, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Nguyễn Quốc H, Phạm Quang D, Lưu Ánh S, Trương Xuân H, Nguyễn Q và Thắng, Hưng, Dũng, Tâm, Tài, Tiến, A Tý, Trung (Lớn) và Thành (chưa rõ nhân thân, lai lịch); người chia bài (Dealer) là “Tình”. Tổng số chip Ben đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 80.000 chip tương đương 80.000.000 đồng; tổng số chip người chơi còn lại sau khi kết thúc ngày chơi là 75.400 chip tương đương 75.400.000 đồng; tiền “xâu” thu được là 3.050 chip tương đương 3.050.000 đồng; tiền “Tip” người chơi cho Dealer – “Tình” là: 1.550 chip tương đương 1.550.000 đồng. Số phỉnh chip những người chơi tham gia, thắng thua và chuyển tiền thắng thua qua tài khoản ngân hàng cho B sau buổi chơi, cụ thể như sau: Nguyễn Đức A đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 1.700.000 đồng. Giang Văn T đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thắng 700.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi hòa. Phan Văn Thành Đ đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 5.000.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 500.000 đồng. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.000.000 đồng. Lưu Ánh S tham gia chơi 4.500 điểm chip tương đương 4.500.000 đồng, chơi thắng 4.350.000 đồng. Trương Xuân H đổi 6.000 điểm chip tương đương 6.000.000 đồng, chơi thua 4.000.000 đồng. Thắng đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 1.700.000 đồng. Hưng đổi 1.500 điểm chip tương đương 1.500.000 đồng, chơi thắng 150.000 đồng. Qúy tham đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua hết. Dũng đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thua hết. Tâm đổi 12.000 điểm chip tương đương 12.000.000 đồng, chơi thua 2.250.000 đồng. Tài đổi 15.000 điểm chip tương đương 15.000.000 đồng, chơi thua 6.650.000 đồng. Tiến đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thua hết. A Tý đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.100.000 đồng. Trung (Lớn) đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 2.150.000 đồng. Thành đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 2.650.000 đồng.

Trong ngày này, B đã chuyển khoản số tiền thắng bạc 5.000.000 đồng bạc cho Phan Văn Thành Đ; Nguyễn Quốc H chuyển số tiền 2.000.000 đồng, Tâm chuyển số tiền 2.250.000 đồng, Nguyễn Q chuyển số tiền 3.300.000 (nợ 2.700.000 đồng) thua bạc cho B. Đối với những người chơi thắng, thua còn lại chưa chuyển khoản và B cho nợ.

4. Lần thứ tư vào ngày 23/02/2023: Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 14 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Giang Văn T, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Nguyễn Hữu Nhật L, Nguyễn Trường H, Nguyễn Quốc H, Phạm Quang D, Trương Xuân H và Tiến, Trung, Tài, A Tý và Thành (chưa rõ nhân thân, lai lịch); người chia bài (Dealer) là “Tình”. Tổng số chip B đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 53.000 chip tương đương 53.000.000 đồng; tổng số chip người chơi còn lại sau khi kết thúc ngày chơi là 49.100 chip tương đương 49.100.000 đồng; tiền “xâu” thu được là 2.300 chip tương đương 2.300.000 đồng; tiền “Tip” người chơi cho Dealer – “Tình” là: 1.600 chip tương đương 1.600.000 đồng. Số phỉnh chip những người chơi tham gia, thắng thua và chuyển tiền thắng thua qua tài khoản ngân hàng cho Ben sau buổi chơi, cụ thể như sau: Nguyễn Đức A đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua 2.500.000 đồng. Giang Văn T đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 800.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 2.500.00 đồng. Phan Văn Thành Đ đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 1.500.000 đồng. Nguyễn Hữu Nhật L đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 2.900.000 đồng. Nguyễn Trường H đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua 3.700.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 3.000.000 đồng. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.500.000 đồng. Trương Xuân H đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 1.900.000 đồng. Tiến đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua hết. Trung đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 1.300.000 đồng. Tài đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thua 2.700.000 đồng. A Tý đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi hòa. Thành đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 1.800.000 đồng.

Trong ngày này, B đã chuyển khoản số tiền thắng bạc 1.500.000 đồng cho Phan Văn Thành Đ, 1.500.000 đồng cho Phạm Quang D, 1.000.000 đồng cho Nguyễn Quốc H (thực tế H thắng 3.000.000 đồng nhưng B chuyển trước 1.000.000 đồng) và số tiền 2.300.000 đồng “Tip” (gồm tiền “Tip” ngày 23/02/2023 là 1.600.000 đồng và số tiền “tip” của các ngày trước đó) cho Trần Thị T. Đối với những người chơi thắng, thua còn lại chưa chuyển khoản và B cho nợ.

5. Lần thứ năm vào khoảng 13 giờ ngày 24/02/2023: Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 09 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Giang Văn T, Lý Minh Đ, Nguyễn Hữu Nhật L, Nguyễn Quốc H, Phạm Quang D, Trương Xuân H, Lưu Ánh S, Đặng Anh T tham gia đánh bạc. Trước khi chơi, B đổi cho D, H, S, Nhật L, Đ, Xuân H mỗi người 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng và đổi cho Đức A, Anh T và Văn T mỗi người 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng. Riêng Huỳnh Kim L đến quán cà phê Time với mục đích chia bài cho người chơi, nhưng khi đến nơi L đi vệ sinh nên mọi người nhờ Nguyễn Trường H vào chia bài giúp thì H đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, những người chơi đang đánh bạc thì bị Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang.

Tang vật thu giữ:

- Tại chiếu bạc: 02 bộ bài tây loại 52 lá; bộ dụng cụ chơi bài Poker (gồm 01 thảm chiếu bài Poker; 01 cục Dealer; 01 allin); 2.680 phỉnh chip tương đương 2.680.000 đồng (số phỉnh chip đang chơi và không xác định được của ai); thu giữ tại hộp nhựa màu đen đựng tiền “xâu” 15 điểm chip tương đương 15.000 đồng; 02 trang giấy A4 thống kê việc qui đổi chip vào ngày từ ngày 23/02/2023 và 24/02/2023.

- Thu giữ toàn bộ số phỉnh chip của những người chơi 12.305 điểm chip tương đương 12.305.000 đồng, cụ thể: Lý Minh Đ 1.985 điểm tương đương 1.985.000 đồng; Nguyễn Hữu Nhật L: 1.995 điểm tương đương 1.995.000 đồng; Đặng Anh T: 1.000 điểm tương đương 1.000.000 đồng; Nguyễn Quốc H 1.330 điểm tương đương 1.330.000 đồng; Phạm Quang D 1.745 điểm tương đương 1.745.000 đồng; Lưu Ánh S 2.260 điểm tương đương 2.260.000 đồng; Trương Xuân H 1.990 điểm tương đương 1.990.000 đồng.

- Ngoài ra còn thu giữ các đồ vật, tài sản khác của các đối tượng: Phạm Phú B: 03 trang giấy A4 thống kê việc qui đổi chip từ ngày 20/02/2023 và 22/02/2023; 01 ĐTDĐ iPhone XS max màu đen; 02 hộp kim loại màu đen (bên trong có chứa các loại chip số: 05, 10, 50, 100, 500); 130.000 đồng; 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank mang tên PHAM PHU B; 01 xe mô tô nhãn hiệu Air blade màu đen BKS 43E1-191.23. Lý Minh Đ: 01 ĐTDĐ iPhone Xs màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen 43E1-285.41; 58.000 đồng; 01 thuốc lá điện tử; 01 tai nghe Bluetooth. Nguyễn Hữu Nhật L: 01 ĐTDĐ iPhone màu trắng; 01 ví da; 303.000 đồng; 01 CCCD mang tên Nguyễn Hữu Nhật L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen BKS 43C1-947.81. Đặng Anh T: 01 ĐTDĐ Iphone; 290.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh BKS 43S2-5356. Lưu Ánh S: 01 ĐTDĐ iPhone XS màu vàng; 01 Macbook màu trắng; 167.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh dương BKS 38H1-266.74. Nguyễn Quốc H: 01 ĐTDĐ iPhone 13 màu đen; 50.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh đen BKS 43C1-609.58; Phạm Quang D: 01 ĐTDĐ iPhone 12 màu đen; 2.600.000 đồng; 01 dây sạc màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 92C1-16351. Trương Xuân H: 01 ĐTDĐ iPhone 11 promax; 01 ví da màu đen; 910.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh, BKS 37F1-770.13. Giang Văn T: 01 ĐTDĐ iPhone 12 promax màu xanh dương; 01 xe mô tô nhãn hiệu Lead BKS 43E1-43177; 200.000 đồng. Nguyễn Trường H: 01 ĐTDĐ iPhone X màu trắng; 01 thuốc lá điện tử; 01 xe mô tô nhãn hiệu SH màu trắng BKS 43G1-460.36; 01 ví da màu đen; 130.000 đồng. Nguyễn Đức A: 01 ĐTDĐ iPhone 6 màu vàng. Huỳnh Kim L: 01 ĐTDĐ iPhone 6 plus màu hồng; 3.450.000 đồng và 24 USD Mỹ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu đen vàng BKS 43U1-4971; 02 ví da; 01 CCCD mang tên Huỳnh Kim L;

Do đang chơi thì bị bắt quả tang nên cả nhóm không nhớ cụ thể số điểm chip trong ván chơi này và không xác định được số tiền thắng, thua. Tuy nhiên, cả nhóm khai nhận phù hợp với số phỉnh chip thu giữ trên chiếu bạc, của các đối tượng và xác định được tại thời điểm bắt quả tang tổng số phỉnh chip thu giữ tại chiếu bạc 15.000 điểm chip tương đương 15.000.000 đồng (bao gồm: phỉnh chíp của ván bị bắt quả tang là 2.680 điểm chip tương đương 2.680.000 đồng; tiền “xâu” 15 điểm chip tương đương 15.000 đồng và số phỉnh chip thu giữ của những người chơi đánh bạc là 12.305 điểm chip tương đương 12.305.000 đồng).

Như vậy, từ ngày 20/02/2023 đến 24/02/2023, Phạm Phú B đã 05 lần tổ chức đánh bạc trái phép cho Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Giang Văn T, Trương Xuân H, Phạm Quang D, Nguyễn Trường H, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Đặng Anh T, Phan Văn Thành Đ, Huỳnh Kim L và nhiều người khác là Xune (Trang), Dũng, B Nhân, Huy, Tâm, Tài, Tiến, A Tý, Trung (L), Đ Long (L), Thành, Huy (Lớn), Trung (nhỏ) và Hưng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền đánh bạc 259.000.000 đồng (trong đó ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng và ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng); thu lợi bất chính 7.665.000 đồng, số tiền này B đã sử dụng mua dụng cụ để tổ chức đánh bạc và tiêu xài cá nhân hết.

Đối với những người tham gia đánh bạc:

- Nguyễn Đức A tham gia đánh bạc 05 lần với tổng số tiền là 259.000.000 đồng (ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng và ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền A trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 16.500.000 đồng, chơi thua 7.500.000 đồng, còn lại 12.700.000 đồng);

- Lý Minh Đ tham gia đánh bạc 05 lần với tổng số tiền là 259.000.000 đồng (ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng và ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền Đ trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 14.000.000 đồng, chơi thua 4.915.000 đồng, còn lại 9.285.000 đồng);

- Phan Văn Thành Đ tham gia đánh bạc 04 lần với tổng số tiền là 244.000.000 đồng (ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; trong đó, số tiền Đ trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 15.000.000 đồng, chơi thắng 12.300.000 đồng);

- Nguyễn Quốc H tham gia đánh bạc 04 lần với tổng số tiền là 206.000.000 đồng (ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền H trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 14.000.000 đồng chơi thắng 1.830.000 đồng);

- Phạm Quang D tham gia đánh bạc 04 lần với tổng số tiền là 206.000.000 đồng (ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền D trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 12.000.000 đồng, chơi thua 155.000 đồng, còn lại 11.845.000 đồng).

- Giang Văn T tham gia đánh bạc 04 lần với tổng số tiền là 201.000.000 đồng (ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền T trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 7.000.000 đồng, chơi thắng 1.300.000 đồng).

- Trương Xuân H tham gia đánh bạc 03 lần với tổng số tiền là 148.000.000 đồng (ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền H trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 11.000.000 đồng, chơi thua 2.110.000 đồng, còn lại 8.890.000 đồng).

- Nguyễn Hữu Nhật L tham gia đánh bạc 03 lần với tổng số tiền là 126.000.000 đồng (ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền L trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 9.000.000 đồng, chơi thua 2.105.000 đồng, còn lại 6.895.000 đồng).

- Lưu Ánh S tham gia đánh bạc 03 lần với tổng số tiền là 153.000.000 đồng (ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 22/02/2023 là 80.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền S trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 8.500.000 đồng, chơi thắng 4.610.000 đồng).

- Nguyễn Trường H tham gia đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 111.000.000 đồng (ngày 21/02/2023 là 58.000.000 đồng; ngày 23/02/2023 là 53.000.000 đồng; trong đó, số tiền H trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 9.000.000 đồng, chơi thua 7.700.000 đồng, còn lại 1.300.000 đồng).

- Đặng Anh T tham tham gia đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 68.000.000 đồng (ngày 20/02/2023 là 53.000.000 đồng; ngày 24/02/2023 là 15.000.000 đồng; trong đó, số tiền T trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 4.000.000 đồng chơi thua 1.200.000 đồng, còn lại 2.800.000 đồng).

- Huỳnh Kim L tham gia đánh bạc 01 lần trong ngày 21/02/2023 với số tiền là 58.000.000 đồng (trong đó, số tiền L trực tiếp bỏ ra để đánh bạc là 3.500.000 đồng, chơi thắng 1.900.000 đồng).

Qua điều tra, các bị cáo Phạm Phú B, Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Giang Văn T, Trương Xuân H, Phạm Quang D, Nguyễn Trường H, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Đặng Anh T, Phan Văn Thành Đ, Huỳnh Kim L đã khai nhận hành vi phạm tội như trên phù hợp với 05 trang giấy A4 thống kê việc qui đổi chip và các giao dịch chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phú B phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Phạm Quang D, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Trương Xuân H, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H, Đặng Anh T, Huỳnh Kim L phạm tội “Đánh bạc”

1. Căn cứ Điểm a, c khoản 1 khoản 3 Điều 322; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Phú B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/02/2023. Phạt bổ sung: 30.000.000 đồng.

2. Căn cứ Điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 15 (Mười lăm) tháng tù giam, được trừ 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 20/6/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 11 (Mười một) tháng 03 (ba) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

3. Căn cứ Điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lý Minh Đ 15 (Mười lăm) tháng tù giam, được trừ 01 (một) tháng 20 (hai mươi) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 14/4/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 13 (Mười ba) tháng 10 (mười) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

4. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phan Văn Thành Đ 15 (mười lăm) tháng tù giam,thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giam 14/7/2023. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

5. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 09 (chín) tháng tù giam, được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ trước đó (24/02/2023- 27/02/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 08 (tám) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

6. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Quang D 09 (chín) tháng tù giam, được trừ 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 20/6/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

7. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Giang Văn T 09 (chín) tháng tù giam, được trừ 01 (một) tháng 20 (hai mươi) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 14/4/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 07 (bảy) tháng 10 (mười) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

8. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Nhật L 09 (chín) tháng tù giam, được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ trước đó (24/02/2023- 27/02/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 08 (tám) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

9. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 09 (chín) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

10. Căn cứ Điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lưu Ánh S 09 (chín) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Anh T, Huỳnh Kim L, Trương Xuân H, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/10/2023 bị cáo Phạm Phú B, ngày 06/10/2023 bị cáo Nguyễn Đức A, ngày 03/10/2023 bị cáo Lý Minh Đ, ngày 11/10/2023 bị cáo Phan Văn Thành Đ, ngày 04/10/2023 bị cáo Nguyễn Quốc H, ngày 12/10/2023 bị cáo Phạm Quang D, ngày 06/10/2023 bị cáo Giang Văn T, ngày 04/10/2023 bị cáo Nguyễn Hữu Nhật L, ngày 10/10/2023 bị cáo Lưu Ánh S, ngày 02/10/2023 bị cáo Nguyễn Trường H có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Phạm Phú B về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Phạm Quang D, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với mỗi bị cáo là phù hợp, không nặng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin hưởng án treo.

- Bị cáo Phạm Quang D: Trong quá trình xét xử, xin rút kháng cáo nhưng vẫn dự phiên toà xét xử các bị cáo khác đến khi tuyên án.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Phú B: Thống nhất với quan điểm về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo B, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền và số người tham gia đánh bạc, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Thành Đ: Thống nhất về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo Phan Văn Thành Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc vì không xác định được những đối tượng khác có đánh bạc với các bị cáo hay không nhưng quy kết tổng số tiền cho các bị cáo là bất lợi; mặc khác bị cáo tự thú các lần đánh bạc, thể hiện qua bản tự khai và bản ghi lời khai nhưng chưa được Toà án sơ thẩm áp dụng; sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù bị tạm giam nhưng đã tác động gia đình nộp tiền phạt thể hiện ăn năn hối hận; nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H: Thống nhất về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Quốc H. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để khẳng định:

Khoảng 13 giờ ngày 24/02/2023, tại tại quán cà phê Time địa chỉ số 05 đường A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng, Phạm Phú B tổ chức đánh bạc cho 09 người chơi gồm: Nguyễn Đức A, Giang Văn T, Lý Minh Đ, Nguyễn Hữu Nhật L, Nguyễn Quốc H, Phạm Quang D, Trương Xuân H, Lưu Ánh S, Đặng Anh T tham gia đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “poker xì tố” sử dụng phỉnh chip để chơi thay tiền mặt. Trước khi chơi, B đổi cho D, Quốc H, S, Nhật L, Đ, Xuân H mỗi người 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng và đổi cho Đức A, Anh T và Văn T mỗi người 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng. Riêng Huỳnh Kim L đến quán cà phê Time với mục đích chia bài cho người chơi, nhưng khi đến nơi L đi vệ sinh nên mọi người nhờ Nguyễn Trường H vào chia bài giúp. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày bị Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang. Tổng số tiền dùng đánh bạc quy đổi từ điểm chip tương đương 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.

Quá trình điều tra, truy xét và các bị cáo tự khai ra các lần đánh bạc trước đó như kết luận của Bản án sơ thẩm, tuy nhiên việc xác định số tiền của các bị cáo tham gia đánh bạc là chưa phù hợp, bỡi lẻ: Theo luật chơi thì số người chơi từ 6 đến 9 người cùng tham gia đánh bạc với nhau. Trong quá trình đánh bạc, người chơi bài có thể nghỉ bất cứ lúc nào, người khác (bất kỳ ai) có thể tham gia chơi miễn đáp ứng đủ số lượng người chơi; quá trình điều tra không xác định được thời điểm từng người tham gia đánh bạc và nghĩ lúc nào, các bị cáo có tham gia đánh bạc với những người (không xác định được nhân than, lai lịch) hay không; việc đổi chip nhưng có tham gia đánh bạc hay không. Mặc khác, các bị cáo xác định không biết, không tham gia đánh bạc với những người này; việc đổi chip chỉ có bị cáo Phạm Phú Ben biết với từng người. Do đó, việc xác định tổng số tiền tham gia đánh bạc của các bị cáo, bao gồm cả số phỉnh chip được bị cáo Ben ghi chép của các đối tượng (không xác định được) cho các bị cáo tham gia đánh bạc là không phù hợp, bất lợi cho các bị cáo; mà chỉ xác định riêng đối với bị cáo Ben do tổ chức đánh bạc. Nên cần xác định số tiền dùng đánh bạc của các bị cáo như sau:

Ngày 20/02/2023, Phạm Phú B tổ chức đánh bạc và đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 53.000 chip tương đương 53.000.000 đồng. Trong đó: Nguyễn Đức A đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, Giang Văn T đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, Lý Minh Đ đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, Phan Văn Thành Đ đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, Đặng Anh T đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng; các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với tổng số tiền 14.000.000 đồng.

Ngày 21/02/2023, Phạm Phú B tổ chức đánh bạc và đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 58.000 chip tương đương 58.000.000 đồng. Trong đó: Nguyễn Đức A đổi 1.500 điểm chip tương đương 1.500.000 đồng, chơi thắng 3.000.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 2.400.000 đồng. Phan Văn Thành Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 4.300.000 đồng. Nguyễn Hữu Nhật L đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua hết. Nguyễn Trường H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua hết. Huỳnh Kim L đổi 3.500 điểm chip tương đương 3.500.000 đồng, chơi thua 1.900.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi hòa. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi hòa. Lưu Ánh S đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng; các bị cáo cùng đánh bạc với tổng số tiền 30.000.000 đồng.

Ngày 22/02/2023, Phạm Phú B tổ chức đánh bạc và đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 80.000 chip tương đương 80.000.000 đồng. Trong đó: Nguyễn Đức A đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 1.700.000 đồng. Giang Văn T đổi 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng, chơi thắng 700.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi hòa. Phan Văn Thành Đ đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 5.000.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 500.000 đồng. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.000.000 đồng. Lưu Ánh S tham gia chơi 4.500 điểm chip tương đương 4.500.000 đồng, chơi thắng 4.350.000 đồng. Trương Xuân H đổi 6.000 điểm chip tương đương 6.000.000 đồng, chơi thua 4.000.000 đồng; các bị cáo cùng đánh bạc với tổng số tiền 26.500.000 đồng.

Ngày 23/02/2023, Phạm Phú B tổ chức đánh bạc và đổi cho người chơi dùng để đánh bạc là 53.000 chip tương đương 53.000.000 đồng, trong đó: Nguyễn Đức A đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua 2.500.000 đồng. Giang Văn T đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 800.000 đồng. Lý Minh Đ đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thua 2.500.00 đồng. Phan Văn Thành Đ đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thắng 1.500.000 đồng. Nguyễn Hữu Nhật L đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 2.900.000 đồng. Nguyễn Trường H đổi 5.000 điểm chip tương đương 5.000.000 đồng, chơi thua 3.700.000 đồng. Nguyễn Quốc H đổi 4.000 điểm chip tương đương 4.000.000 đồng, chơi thắng 3.000.000 đồng. Phạm Quang D đổi 2.000 điểm chip tương đương 2.000.000 đồng, chơi thắng 1.500.000 đồng. Trương Xuân H đổi 3.000 điểm chip tương đương 3.000.000 đồng, chơi thắng 1.900.000 đồng; các bị cáo cùng đánh bạc với tổng số tiền 34.000.000 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã xét xử bị cáo Phạm Phú B về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là phù hợp; đối với các bị cáo còn lại phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ. Tuy nhiên các bị cáo chỉ phạm tội theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự với tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần (đều tội phạm ít nghiêm trọng và do tự thú).

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Phạm Phú B: bị cáo phạm tội nhiều lần với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 259.000.000 đồng; sau khi xét xử đã nộp phạt bổ sung 8.000.000 đồng. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 21 tháng tù cũng phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo.

Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H thì thấy: Do xác định lại số tiền tham gia đánh bạc mỗi ngày dưới 50.000.000 đồng nên phạm tội quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo nộp tiền phạt bổ sung, án phí sơ thẩm (Phan Văn Thành Đ: 12.500.000đ, Lý Minh Đ: 10.200.000đ, Nguyễn Đức A: 10.200.000đ, Lưu Ánh S: 10.200.000đ, Nguyễn Trường H: 10.200.000đ, Phạm Quang D: 10.200.000đ, Giang Văn T: 10.200.000đ). Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt, kể cả bị cáo Phạm Quang D. Các bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ tham gia đánh bạc 5 lần nên giảm ít hơn các bị cáo còn lại.

Giang Văn T vợ bỏ đi không rõ, hiện đang nuôi 02 con nhỏ - có xác nhận của địa phương, cha ruột Giang Văn A được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường tặng bằng khen trong công tác, kỷ niệm chương vì sự nghiệp tài nguyên, môi trường, ông ngoại Võ Ngọc H người có công cách mạng được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất, nhì, ba. Các bị cáo Nguyễn Hữu Nhật L, Nguyễn Trường H đang là sinh viên năm cuối đại học, sử dụng tiền tham gia đánh bạc 3 lần không lớn (9.000.000 đồng), gia đình có truyền thống cách mạng; Nguyễn Hữu Nhật L có cha ruột được Bộ Công an, Chủ tịch UBND TP tặng bằng khen có thành tích trong xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và mẹ ruột được Thủ tướng tặng bằng khen có thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục; Nguyễn Trường H có cha ruột được Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam tặng bằng khen trong các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật thành phố và nhiều năm có thành tích trong thi công, xây dựng các công trình trọng điểm của thành phố. Bị cáo Lưu Ánh S sử dụng tiền đánh bạc 02 lần là 6.500.000 đồng và có 01 lần đổi phỉnh 2.000.000 đồng nhưng không đánh bạc; 04 bị cáo T, L, H và S có đủ điều kiện cho hưởng án treo và không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù nên cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng thoả đáng.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do không được chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Phạm Phú B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Phạm Quang D, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 355, Điều 356 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Phú B. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức A, Lý Minh Đ, Phan Văn Thành Đ, Phạm Quang D, Nguyễn Quốc H, Giang Văn T, Nguyễn Hữu Nhật L, Lưu Ánh S, Nguyễn Trường H. Sửa Bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ: Điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Phú B 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023.

Phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (đã nộp 8.000.000 đồng tại Biên lai thu số 0001693 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

3. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, được trừ 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023 - 20/6/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001859 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

4. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Minh Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, được trừ 01 (một) tháng 20 (hai mươi) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 14/4/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 09 (chín) tháng 10 (mười) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001691 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

5. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn Thành Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2023.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 12.500.000 đồng tại Biên lai thu số 0001690 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

6. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ trước đó (24/02/2023- 27/02/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 05 (tám) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

7. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang D 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, được trừ 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tạm giam trước đó (24/02/2023- 20/6/2023); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 02 (hai) tháng 03 (ba) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001861 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

8. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Giang Văn T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024). Giao bị cáo về UBND phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001860 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

9. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Nhật L 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024). Giao bị cáo về UBND phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng.

10. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024). Giao bị cáo về UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001694 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

11. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Ánh S 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/01/2024). Giao bị cáo về UBND phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (đã nộp 10.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0001860 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).

12. Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

13. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Phú B phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

14. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

15. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ