- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Hồng H với ông Phạm Thế V.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 01 - 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Sơn
2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1984
Địa chỉ: 46 Nguyễn B, phường Hòa K, quận Thanh K, TP. Đà Nẵng- Có mặt;
2. Bị đơn: Ông Phạm Thế V, sinh năm 1979
Địa chỉ: 34 Hoài T, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 29/6/2023, bản trình bày và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Phạm Thế V kết hôn với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng, có thời gian tìm hiểu nhau và hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại số 46 Nguyễn B, phường Hòa K, quận Thanh K, TP. Đà Nẵng.
Từ khi kết hôn vợ chồng tôi sống đến nay được 15 năm và có 03 con chung. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống và xúc phạm nhau; hiện nay chúng tôi đã sống ly thân gần một năm nay, không ai quan tâm đến ai nữa.
Nay tôi xác định về tình cảm không còn yêu thương ông V nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phạm Thế V.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng tôi có 03 con chung tên là Phạm Lê Tuệ M, sinh ngày 27/3/2010, Phạm Thế P, sinh ngày 17/7/2012 và Phạm Thế V1, sinh ngày 06/11/2015. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung;
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Thế V đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông V trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông V vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát B ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Phạm Thế V đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56; 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Lê Thị Hồng H đối với ông Phạm Thế V.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng H được ly hôn với ông Phạm Thế V.
Về con chung: Giao 03 con Phạm Lê Tuệ M, sinh ngày 27/3/2010, Phạm Thế P, sinh ngày 17/7/2012 và Phạm Thế V1, sinh ngày 06/11/2015 cho bà Lê Thị Hồng H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Hồng H nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn là ông Phạm Thế V vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]
Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị Hồng H và ông Phạm Thế V kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo khai nại của bà H, trong quá trình chung sống cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, bất đồng quan điểm sống và xúc phạm nhau nên cả hai đã sống ly thân gần một năm nay, không ai quan tâm đến ai nữa.
Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông V tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, trong quá trình chung sống với nhau cả hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau. Do đó, ông V đã về nhà cha mẹ đẻ sinh sống gần một năm nay.
Việc bà H cương quyết xin ly hôn còn ông V vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án cũng không có ý kiến của ông V để hòa giải, động viên vợ chồng về sống đoàn tụ gia đình, nhằm khắc phục được sự mâu thuẫn để có sức thuyết phục, níu kéo bà H trở lại hàn gắn hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con cái trưởng thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng không có cơ sở để bảo vệ cho ông V được.
Qua điều tra, xác M tại địa phương cho thấy ông Phạm Thế V hiện đang sống tại địa chỉ 34 Hoài T, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng. Về tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông V hiện nay như thế nào thì không nắm rõ, vì không thông báo gì cho tổ biết. Hiện nay bà H cùng các con không sống tại địa chỉ trên, chỉ thấy thỉnh thoảng bà H chở các con về thăm ông bà (vì nhà tại địa chỉ 34 Hoài T là nhà cha mẹ đẻ của ông V đang ở).
Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Lê Thị Hồng H và ông Phạm Thế V thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng H được ly hôn ông Phạm Thế V để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng bà H và ông V có 03 con chung tên là Phạm Lê Tuệ M, sinh ngày 27/3/2010, Phạm Thế P, sinh ngày 17/7/2012 và Phạm Thế V1, sinh ngày 06/11/2015. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cháu Tuệ M, Thế P và Thế V1 hiện còn nhỏ và đang ở với mẹ từ trước đến nay nên cuộc sống của các cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con; hơn nữa cả cháu M, cháu P và cháu V1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ để thuận tiện cho việc đi học; điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của bà H được nuôi dưỡng các cháu để thuận tiện cho việc chăm sóc, giáo dục con. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao ba cháu Phạm Lê Tuệ M, Phạm Thế P và Phạm Thế V1 cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung là ý chí tự nguyện của bà H nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
- Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Lê Thị Hồng H phải chịu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Hồng H với ông Phạm Thế V.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng H được ly hôn với ông Phạm Thế V.
2. Về con chung: Giao ba con Phạm Lê Tuệ M, sinh ngày 27/3/2010, Phạm Thế P, sinh ngày 17/7/2012 và Phạm Thế V1, sinh ngày 06/11/2015 cho bà Lê Thị Hồng H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Phạm Thế V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Lê Thị Hồng H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0001591 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Lâm |