vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Tô Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Trần Văn Đức. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Tô Thị H và anh Trần Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ QUANG
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/4/2024
Về việc “kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Túy và bà Phạm Thị Thanh Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Song Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Việt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/4/2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 43/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25/10/023, về việc "Kiện ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/3/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tô Thị H, sinh năm 1998; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Chổ ở hiện nay: Xóm Y, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh ngày 25/8/1993. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động kỷ thuật.(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2023 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Tô Thị H trình bày như sau:

Chị và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung sống, vợ chồng có con chung là Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019. Vợ chồng sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và đến đầu tháng 9/2023 thì cả hai người sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn do tính tình không hợp, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vả nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc tương lai nên đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa chị Tô Thị H trình bày: Trước khi vợ chồng chị ly thân con chung Trần Tô Hồng N sống cùng vợ chồng chị tại Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì cháu N chủ yếu sống cùng với anh Đ, thỉnh thoảng chị mới đón con về trên nhà ông bà ngoại chơi. Quan điểm của chị sau khi ly hôn chị hoặc anh Đ ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cũng được, miễn là cháu được phát triển bình thường như thời gian chị và anh Đ ly thân, tuy nhiên với tư cách là một người mẹ chị vẫn có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai, các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn Đ trình bày như sau:

Về xác lập quan hệ hôn nhân vợ chồng đúng như trình bày của chị Tô Thị H. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo anh thì chị H với tư cách là một người vợ nhưng chị sống thiếu tôn trọng chồng cũng như có tư tưởng bỏ chồng con để đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Hiện nay cả hai vợ chồng đều không còn tình cảm giành cho nhau, sống ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay.

Về con chung: Anh Trần Văn Đ trình bày trước khi vợ chồng ly thân thì con chung Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019 sống cùng vợ chồng anh tại nhà của anh ở Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, sau khi chị H tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì cháu N chủ yếu sống cùng với anh, chị H rất ít khi đến thăm nom con chung cũng như đón con về bên nhà bố mẹ đẻ của chị. Hiện nay cháu N đang học lớp mầm non 5 tuổi trường mầm non xã Q cách nhà khoảng 1 km, hằng ngày anh là người đưa đón cháu đi học. Cháu N được đến trường và phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác nên nếu ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Tô Thị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

- Giao con Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Tô Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Đ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Buộc nguyên đơn chị Tô Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Các đương sự được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, lời trình bày của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Chị Tô Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn với anh Trần Văn Đ. Về nội dung và hình thức đơn khởi kiện của chị Tô Thị Hằng đúng quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý. Các đương sự trong vụ án đều có địa chỉ và nơi làm việc tại huyện Vũ Quang nên Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của chị Tô Thị H và anh Trần Văn Đ là hợp pháp. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, sống thiếu tôn trọng nhau và có những xung đột trong cuộc sống mà không thể dung hòa, giải quyết nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay cắt đứt quan hệ tình cảm, sinh lý. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không đạt được mục đích của hôn nhân nên tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa chị H đều đề nghị được ly hôn với anh Đ; vì vậy cần áp dụng các điều 51, 56 và 57 của Luật hôn nhân và gia đình cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

. Về con chung: Qúa trình chung sống, chị Tô Thị H và anh Trần Văn Đ có một con chung tên là Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019. Các đương sự đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, trước khi vợ chồng ly thân cháu Trần Tô Hồng N sống cùng chị H, anh Đ tại nhà anh Đ ở Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, tuy nhiên sau khi chị Hằng tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì cháu N chủ yếu sống cùng với anh Đ, rất ít khi chị H thăm mon và đón về bên nhà bố mẹ đẻ của chị H. Hiện nay cháu N đang học lớp mầm non 5 tuổi ở trường mầm non H, xã Q hằng ngày anh Đ là người đưa đón cháu đi học và đóng nộp tiền ăn học cho cháu. Chị Tô Thị H cũng đã trình bày và khẳng định, việc anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con như vậy chị thấy cháu được phát triển bình thường về mọi mặt như bao đứa trẻ khác, tinh thần, tâm lý cháu thoải mái.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trực tiếp xuống làm việc với đồng chí Bí thư chi bộ kiêm trưởng ban công tác mặt trận, đồng chí Thôn trưởng thôn X, xã Q và được các đồng chí trên cho biết cháu Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019 là con chung của vợ chồng anh Trần Văn Đ và chị Tô Thị H, các công dân trên có hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã Q, huyện V. Tháng 9 năm 2023 khi vợ chồng anh Đ, chị H xảy ra mâu thuẫn, chị H bỏ đi đâu, làm gì Thôn, xóm không biết, nhưng cháu N vẫn sống cùng anh Đ tại Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Theo phản ánh của các đồng chí trên cháu N tuy sống cùng anh Đ nhưng cháu được đi học, được phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác nên nếu anh Đ, chị H ly hôn thì việc anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N cũng không có vấn đề gì ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Ngoài ra thì tại địa phương anh Trần Văn Đ công dân mẫu mực, chấp hành nghiêm túc chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước.

Ngày 07/3/2024, bị đơn anh Trần Văn Đ nộp cho Tòa án Đơn xác nhận (đề ngày 05/3/2024) của Hiệu trưởng trường mầm non H, xã Q cùng các biên lai thu tiền thể hiện anh Đ là người trực tiếp đóng, nộp cho nhà trường các khoản tiền liên quan đến việc ăn, học của cháu Tô Thị Hồng N từ thời điểm tháng 9 năm 2023 đến nay.

Ngày 08/3/2024 Tòa án đã trực tiếp làm việc với ông Lê Hữu C - Trưởng công an xã Q, huyện V, qua làm việc ông C cho biết chị Tô Thị H và anh Trần Văn Đ đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã Q, huyện V. Tháng 9 năm 2023 do vợ chồng mâu thuẫn nên chị H tự ý bỏ nhà đi, hiện nay chị H ở đâu, làm gì thì Công an xã không năm rõ do chị H không báo cáo lại cũng như không cắt, chuyển hộ khẩu. Còn anh Trần Văn Đ hiện nay là cán bộ kỷ thuật của Công ty TNHH T đóng trên địa bàn huyện V. Tại địa phương anh Đ là công dân gương mẫu, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước. Kể từ ngày chị Hằng tự ý bỏ nhà ra đi thì anh Đ vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tô Thị Hồng N rất tốt. Hiên nay anh Đ đã có nhà riêng tại Thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 09/3/2024 Tòa án đã trực tiếp làm việc với ông Phan Trọng T – Thôn trưởng thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh qua làm việc ông T cho biết chị Tô Thị H là con gái của ông Tô Văn T và bà Phan Thị L. Tại địa phương bố mẹ chị H là những công dân cơ bản chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, tuy nhiên thỉnh thoảng giữa hai vợ chồng ông T, bà L xảy ra va chạm, cải vả với nhau và phải có sự can thiệp của chính quyền địa phương thì mâu thuẫn giữa vợ chồng mới được giải quyết. Khoảng tháng 9 năm 2023 đến nay, chị H về chung sống cùng bố mẹ tại địa chỉ trên và thời gian đó ở Thôn không khi nào thấy chị H đưa con gái về đây để chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H về sinh sống nhưng không có hộ khẩu thường trú cũng như đăng ký tạm trú tại đây và hiện nay chị H đang làm công nhân tại Hợp tác xã H; địa chỉ thôn D, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh chuyên về sản xuất hương các loại hàng mã.

Ngày 09/3/2024 Tòa án đã trực tiếp làm việc với ông Trần K – Phó Trưởng công an xã H, huyện H, qua làm việc ông K cho biết chị Tô Thị H hiện nay sinh sống trên địa bàn xã H, huyện H nhưng không đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú ở đây. Xác minh thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phản ánh chị Tô Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho cháu Trần Tô Hồng N không nên thay đổi môi trường sinh hoạt của cháu mà cần giao cháu cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu là phù hợp theo quy định của pháp luật để cháu có điều kiện phát triển tốt nhất về thể chất và trí tuê.

. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 144, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Tô Hồng N, sinh ngày 14/6/2019 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Tô Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Trần Văn Đức.

Chị Tô Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Buộc chị Tô Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0003605 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/4/2024).

Cỡ chữ