- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Lưu Ly - Võ Phi Sang"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Lưu L:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 01 - 2024. V/v: “T/c ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 907/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Lưu L, sinh năm 1994. HKTT: Khu phố LV, thị trấn NG, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hiện cư trú tại: Số 206 đường HV, thị trấn NG, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị đơn: Anh Võ Phi S, sinh năm 1994. Cư trú tại: Số 15 đường QT9, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Lê Lưu L đề nghị xét xử vắng mặt, anh Võ Phi S vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/09/2023 và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Lê Lưu L trình bày:
Chị Lê Lưu L và anh Võ Phi S tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn NG, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào năm 2021.
Sau khi kết hôn, chị L và anh Võ Phi S xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh S thường xuyên có quan hệ ngoại tình. Chị L đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó anh S xin lỗi, cam kết thay đổi nên chị đã tha thứ, rút đơn về đoàn tụ để cho anh S có cơ hội sửa đổi bản thân nhưng anh S vẫn tiếp diễn khiến chị không còn niềm tin vào anh S nữa. Chị L đã đưa con về nhà bố mẹ ở từ tháng 05/2022 đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân trở nên ngột ngạt và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L đề nghị được ly hôn với anh Võ Phi S để giải thoát cho nhau.
Về con chung: Chị L trình bày, chị và anh S có 01 con chung là Võ Phi K, sinh ngày 25/07/2021. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; tạm thời, chị L không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Chị L cam kết chị và anh S không có nợ chung.
* Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử anh Võ Phi S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng anh S vẫn không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Lưu L được ly hôn với anh Võ Phi S. Về con chung: Giao cho chị Lê Lưu L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Võ Phi K, sinh ngày 25/07/2021; tạm thời chị L không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
Chị Lê Lưu L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Võ Phi S hiện đang cư trú tại: số 15 đường QT09, ấp QP, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai và tranh chấp ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Chị Lê Lưu L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Võ Phi S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Lưu L và anh Võ Phi S là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2021 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 5, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi chị Lê Lưu L đoàn tụ với anh Võ Phi S nhưng chị L vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm yêu thương, tôn trọng dành cho nhau nữa.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Võ Phi S đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn đoàn tụ giữa chị L, anh S nhưng anh S không chấp hành, vắng mặt mà không có lý do chính đáng, chứng tỏ anh S cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của anh chị.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Lê Lưu L và anh Võ Phi S đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Lê Lưu L được ly hôn với anh Võ Phi S.
2.2. Về con chung:
Chị Lê Lưu L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Võ Phi K, sinh ngày 25/07/2021. Anh Võ Phi S không có tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Hiện tại, cháu Võ Phi K đang ở cùng với chị L. Hơn nữa, cháu Võ Phi K chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, tiếp tục giao cho chị Lê Lưu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Võ Phi K là đảm bảo việc phát triển toàn diện cho con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Lê Lưu L tạm thời không yêu cầu anh Võ Phi S phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2.3. Về tài sản chung: Chị Lê Lưu L và anh Võ Phi S không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2.4. Về nợ chung: Chị Lê Lưu L trình bày không có, anh Võ Phi S không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Lê Lưu L phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Lưu L:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Lưu L được ly hôn với anh Võ Phi S.
2. Về con chung: Giao cho chị Lê Lưu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Võ Phi K, sinh ngày 25/07/2021.
Tạm thời, chị Lê Lưu L không yêu cầu anh Võ Phi S phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Võ Phi S.
Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Lưu L phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007449 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Lê Lưu L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS. huyện Trảng Bom; - UBND thị trấn NG, H. CĐ - tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (GCNKH số 15 ngày 08/02/2021); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |