vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P. Cho chị Lê Hồng P được ly hôn với anh Phạm Văn S.

Về con chung: Giao hai cháu Phạm Thị Bích T, sinh ngày 07/9/2011 và Phạm Trường T, sinh ngày 01/6/2016 cho chị P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chấm dứt việc nuôi con theo quy định của pháp luật. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Hồng P và anh Phạm Văn S tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P. Cho chị Lê Hồng P được ly hôn với anh Phạm Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03-01-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hoàng Hân.

Ông Lê Quang Đầy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 215/2023/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Hồng P, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm S, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau;

- Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm S, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Lê Hồng P trình bày: Chị Lê Hồng Phương kết hôn với anh Phạm Văn S vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống mỗi lần anh S nhậu say về nhà là cằn nhằn đến nỗi chị không thể chịu đựng nỗi. Ngoài ra, giữa chị và anh S hiện nay không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh S.

Quá trình chung sống có 02 người con tên Phạm Thị Bích T, sinh ngày 07/9/2011 và Phạm Trường T, sinh ngày 01/6/2016. Sau khi ly hôn nguyện vọng con theo ai thì người đó nuôi dưỡng. Trường hợp con ở với chị thì không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Phạm Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến, yêu cầu gì đối với nội dung nguyên đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị P vắng mặt có văn bản xin vắng mặt; anh S đã được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải và phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về hôn nhân: Chị P và anh S tự nguyện kết hôn năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Năm Căn vào ngày 28/8/2015, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Về mâu thuẫn thì chị P xác định trong quá trình chung sống giữa chị và anh S hiện nay không hợp nhau, không còn tình cảm, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải nên yêu cầu được ly hôn. Đối với anh S đã biết việc chị P khởi kiện xin ly hôn với anh nhưng không có ý kiến phản bác yêu cầu khởi kiện của chị P. Mặt khác, anh S đã được Tòa án thông báo tham gia hòa giải và triệu tập để tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án, cho thấy anh S cũng không muốn hàn gắn và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P đặt ra. Do đó, có cơ sở cho rằng tình trạng mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P là đúng quy định pháp luật.

Về con chung. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Bích T, sinh ngày 07/9/2011 và Phạm Trường T, sinh ngày 01/6/2016. Qua xác minh nguyện vọng của 02 con xin được ở với chị P và anh S không có nguyện vọng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng và quan hệ tình cảm của 02 cháu đối với chị P, giao hai con chung cho chị P nuôi dưỡng là có căn cứ.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị P không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3

-2-

Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P. Cho chị Lê Hồng P được ly hôn với anh Phạm Văn S.

2. Về con chung: Giao hai cháu Phạm Thị Bích T, sinh ngày 07/9/2011 và Phạm Trường T, sinh ngày 01/6/2016 cho chị P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chấm dứt việc nuôi con theo quy định của pháp luật.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cấp dưỡng nuôi con chị P không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Án phí hôn nhân gia đình chị P phải chịu 300.000 đồng, chị đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0016307 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn nay được chuyển thu, chị P đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ