- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Hoàng L - Bùi Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hoàng L về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị Hoàng L được ly hôn với anh Bùi Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-01-2024 V/v tranh chấp Ly hôn giữa chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Cao Sơn.
Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Tấn và ông Bùi Văn Quyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/10/2023 về việc Tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hoàng L, sinh năm 1993. Địa chỉ: xóm V, xã N, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm V, xã N, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị Hoàng L trình bày: chị và anh Bùi Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ngày 11/10/2013. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xung đột và không có tiếng nói chung nên năm 2018 anh Chu đã bỏ đi để sống ly thân với chị L. Quá trình sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Bùi Thị Hoàng L thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn C. Về con chung: chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C có 02 con chung là cháu Bùi Ngọc B1, sinh ngày 30/11/2014 và cháu Bùi Ngọc B2, sinh ngày 13/3/2018. Khi ly hôn chị L xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và chưa có yêu cầu anh Bùi Văn C đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung với chị. Về tài sản chung, nợ chung: chị Bùi Thị Hoàng L khai là không có.
Về phía anh Bùi Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ nơi cư trú của anh Bùi Văn C thể hiện anh Bùi Văn C có địa chỉ rõ ràng; có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ chị Bùi Thị Hoàng L đã cung cấp cho Tòa án nhưng thường xuyên vắng mặt tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không ở một địa chỉ ổn định nên không lấy được ý kiến của anh Bùi Văn C. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.
Kết quả Tòa án xác minh, thể hiện: chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C có mâu thuẫn, đã sống ly thân nhau; anh Bùi Văn C thường xuyên đi làm ăn xa không rõ tại đâu, thi thoảng mới về, không còn quan tâm đến vợ con. Về con chung, tài sản và nợ chung đúng như chị Bùi Thị Hoàng L đã khai.
Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Bùi Ngọc B1 vì cháu Bích đã trên 7 tuổi theo quy định của pháp luật, thể hiện cháu Bùi Ngọc B1 có mong muốn được ở với mẹ là chị Bùi Thị Hoàng L.
Tại phiên tòa, chị Bùi Thị Hoàng L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về ly hôn, quyền và nghĩa vụ nuôi con chung sau ly hôn.
Phía đại diện Viện kiểm sát nhận định về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn có địa chỉ cư trú rõ ràng, đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C có mâu thuẫn trầm trọng; không còn tình cảm vợ chồng; mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ly hôn. Về con chung hiện các cháu Bùi Ngọc B1 và cháu Bùi Ngọc B2 đang sinh sống ổn định với chị Bùi Thị Hoàng L còn anh Bùi Văn C không có chỗ ở ổn định nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hoàng L về quyền và nghĩa vụ nuôi con sau ly hôn. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Văn C không có mặt tại Tòa án mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Bùi Văn C đúng như địa chỉ mà nguyên đơn đã cung cấp. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh Bùi Văn C. Do nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất nhưng vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn là anh Bùi Văn C có nơi cư trú tại xóm V, xã N, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm về độ tuổi cũng như những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống sau khi kết hôn giữa chị L và anh C có xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn đã được xác minh thể hiện vợ chồng chị L, anh C trong cuộc sống bất đồng với nhau về quan điểm, tính cách và lối sống, đã sống ly thân nhau; anh C bỏ đi làm ăn ở một nơi, không còn quan tâm gì đến vợ con, gia đình, bỏ mặc sống thế nào cùng được. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Hoàng L là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và cần chấp nhận.
Về con chung: Xác nhận chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C có 02 con chung là cháu Bùi Ngọc B1, sinh ngày 30/11/2014 và cháu Bùi Ngọc B2, sinh ngày 13/3/2018. Khi ly hôn, chị Bùi Thị Hoàng L nhận trực tiếp nuôi con chung. Xét điều kiện nuôi con của cả hai bên thấy rằng: phía chị L có công việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định còn phía anh C hiện thường xuyên không sinh sống tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không có chỗ ở ổn định. Thực tế việc nuôi con do chị Bùi Thị Hoàng L thực hiện và các con chung của chị L, anh C đang sinh sống ổn định. Nguyện vọng của con lớn là Bùi Ngọc B1 mong muốn được ở với mẹ là chị Bùi Thị Hoàng L. Do vậy, vì quyền lợi mọi mặt của trẻ em, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Bùi Ngọc B1 và cháu Bùi Ngọc B2 cho chị Bùi Thị Hoàng L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng phía chị Bùi Thị Hoàng L chưa có yêu cầu anh Bùi Văn C đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là ý kiến tự nguyện của chị Bùi Thị Hoàng L và không ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị L nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Bùi Thị Hoàng L vẫn có quyền yêu cầu anh Bùi Văn C cấp dưỡng trong quá trình nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn C có quyền thăm nom con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Do chị Bùi Thị Hoàng L khai là không có và việc anh Bùi Văn C vắng mặt nên Tòa án không lấy được ý kiến của anh C nên không có cơ sở xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp về tài sản chung và có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ việc khác.
Về nợ chung của vợ chồng: Xác định không có.
Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hoàng L về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị Hoàng L được ly hôn với anh Bùi Văn C.
2. Về con chung: chị Bùi Thị Hoàng L và anh Bùi Văn C có 02 con chung là cháu Bùi Ngọc B1, sinh ngày 30/11/2014 và cháu Bùi Ngọc B2, sinh ngày 13/3/2018. Sau khi ly hôn, giao cả hai con chung là Bùi Ngọc B1 và Bùi Ngọc B2 cho chị Bùi Thị Hoàng L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Bùi Văn C chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Bùi Thị Hoàng L chưa có yêu cầu. Anh Bùi Văn C có quyền thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Anh Bùi Văn C không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Bùi Thị Hoàng L.
3. Về tài sản chung: Không xem xét.
4. Nợ chung của vợ chồng: Xác nhận không có.
5. Án phí: Chị Bùi Thị Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002132 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn; chị Bùi Thị Hoàng L đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Cao Sơn |