vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Nhi S, xử cho chị Đỗ Thị Nhi S và anh Trần Minh N ly hôn.

Về con chung: Xử giao cho chị Đỗ Thị Nhi S nuôi hai con chung tên là Trần Nhã P, sinh ngày 05/3/2017 và Trần Minh T, sinh ngày 18/5/2023đến khi đủ 18 tuổi. Chị S không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con. Vì … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Nhi S, xử cho chị Đỗ Thị Nhi S và anh Trần Minh N ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/01/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Một.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Gia Đông;

2. Ông Lê Minh Thông.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị Nhi S, sinh năm 1985; địa chỉ: khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

- Bị đơn: anh Trần Minh N, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn N, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Nhi S trình bày:

Tôi và anh Trần Minh N tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 3 năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là Ủy ban nhân dân thị trấn T), huyện H, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh N thường xuyên đi sớm về khuya mà không rõ đi đâu, không dành thời gian quan tâm đến gia đình và con cái, thiếu trách nhiệm với gia đình. Anh N không chu cấp tiền nuôi con chung, hơn thế nữa còn mang một khoản nợ lớn ở bên ngoài mà không phải phục vụ cho cuộc sống hôn nhân, tôi đã nhiều lần trả nợ cho anh N nhưng số tiền ngày càng lớn nên tôi không đủ khả năng chi trả. Sau nhiều lần được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành thì chúng tôi đã ly thân được khoảng 02 năm. Nay tôi thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên xin ly hôn với anh N.

Về con chung: Tôi và anh N có 02 con chung là Trần Nhã P, sinh ngày 05/3/2017 và Trần Minh T, sinh ngày 18/5/2023. Khi ly hôn tôi xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục hai con Trần Nhã P và Trần Minh T đến khi các con đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu anh N cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi và anh N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Minh N mặc dù đã được Tòa án thông báo, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh N vẫn không có mặt nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của anh N.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư Ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, trình tự thu thập chứng cứ là đúng quy định pháp luật. Bị đơn không chấp các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Nhi S, xử cho chị S và anh N ly hôn.

+ Về con chung: Xử giao cho chị S nuôi con hai chung là Trần Nhã P, sinh ngày 05/3/2017 và Trần Minh T, sinh ngày 18/5/2023 đến khi các con đủ 18 tuổi.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị Nhi S không yêu cầu anh Trần Minh N cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị Nhi S không yêu cầu Tòa giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ lời trình bày của đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án có bị đơn anh Trần Minh N đang cư trú tại thôn N, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chị Đỗ Thị Nhi S và anh Trần Minh N tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào ngày 13/3/2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là Ủy ban nhân dân thị trấn T), huyện H, tỉnh Quảng Nam. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, chị S cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh N thiếu trách nhiệm với gia đình và con cái cụ thể là thường xuyên đi sớm về khuya mà không rõ đi đâu, không dành thời gian quan tâm đến vợ con, không chu cấp để nuôi con chung, hơn thế nữa còn gây ra một khoản nợ lớn mà không phải dùng cho mục đích chi tiêu trong gia đình. Chị S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không đem lại hạnh phúc nên xin được ly hôn với anh Trần Minh N. Về phía anh Trần Minh N cố tình vắng mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai cũng như nguyện vọng của anh về việc xin ly hôn của chị S.

Xét việc xin ly hôn của chị S thì thấy: Khi mâu thuẫn xảy ra thì anh N không có thiện chí khắc phục. Theo xác minh tại chính quyền địa phương thị trấn T và gia đình thì được biết mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N và chị S đã kéo dài trầm trọng, bản thân anh N thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi, không dành thời gian quan tâm, chăm sóc vợ con, không chu cấp nuôi con và còn gây ra tình trạng nợ nần cho gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị S và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị S xin ly hôn là có cơ sở, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên xét chấp nhận.

Về phía bị đơn anh Trần Minh N cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh N là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về con chung: Chị Đỗ Thị Nhi S và anh Trần Minh N có 02 con chung là Trần Nhã P, sinh ngày 05/3/2017 và Trần Minh T, sinh ngày 18/5/2023. Nguyện vọng của chị S yêu cầu được nuôi hai con chung Trần Nhã P và Trần Minh T. Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Trần Nhã P cũng có nguyện vọng được sống cùng chị S sau khi bố mẹ ly hôn. Xét nguyện vọng nuôi con của chị S thì thấy: Cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ nuôi con chung, không phân biệt trai gái hay bất cứ điều kiện gì khác, việc nuôi con phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng của cha, mẹ. Hiện nay chị S đang có nơi ở ổn định, có việc làm và thu nhập hằng tháng ổn định đảm bảo khả năng để nuôi con chung. Do đó, xét giao cho chị S nuôi dưỡng hai con chung Trần Nhã P và Trần Minh T đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị Đỗ Thị Nhi S không yêu cầu anh Trần Minh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị Nhi S không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) xét buộc chị Đỗ Thị Nhi S phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00112362 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Nam.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Nhi S, xử cho chị Đỗ Thị Nhi S và anh Trần Minh N ly hôn.

2. Về con chung: Xử giao cho chị Đỗ Thị Nhi S nuôi hai con chung tên là Trần Nhã P, sinh ngày 05/3/2017 và Trần Minh T, sinh ngày 18/5/2023đến khi đủ 18 tuổi. Chị S không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị Nhi S không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) xử buộc chị Đỗ Thị Nhi S phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011362 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Nam.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận trích sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ