vanban.org

Bản án 01/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Đình V.

Về quan hệ con chung: Bà L và ông V có 02 con chung là cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 05/02/1997; cháu Trần Đình Đ, sinh này 10/9/1998. Các cháu Đ, Đ1 đã trưởng thành sống với ai là theo nguyện vọng của các cháu. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà L, ông …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Xin ly hôn giữa bà Nguyễn Thị L với ông Trần Đình V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Đình V.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-01-2024
V/v tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Ông Trần Văn Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 484/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2022, về tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXX-ST ngày 08/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HPT ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà 18, tổ 64, ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Trần Đình V, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Số nhà 18, tổ 64, ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà L có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà L trình bày: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Đình V có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng bà L sống hạnh phúc và lo làm ăn nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do không hòa hợp nhau, không còn yêu thương nhau.

Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết: Trần Đình V

Về quan hệ hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn với ông Trần Đình V.

Về con chung: Bà L và ông V có 02 con chung là cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 05/02/1997; cháu Trần Đình Đ, sinh này 10/9/1998. Các cháu Đ, Đ1 đã trưởng thành sống với ai là theo nguyện vọng của các cháu.

Về tài sản chung, về nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Đình V trình bày:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông V không đến tòa án để làm việc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Đình V có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng bà L sống hạnh phúc và lo làm ăn nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do không hòa hợp nhau, không còn yêu thương nhau. Theo bà L nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cải vã. Do đó cần xử cho bà L được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà L và ông V có 02 con chung là cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 05/02/1997; cháu Trần Đình Đ, sinh này 10/9/1998. Các cháu Đ, Đ1 đã trưởng thành sống với ai là theo nguyện vọng của các cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà L, ông V có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Đình V có đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nay bà L yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Nơi cư trú của ông Trần Đình V là xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông V là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà L là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Đình V có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng bà L sống hạnh phúc và lo làm ăn nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do không hòa hợp nhau, không còn yêu thương nhau. Theo bà L nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cải vã. Nay bà L yêu cầu ly hôn với ông V. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập ông V để làm việc, hòa giải nhưng ông V không đến Tòa án. Xác minh tại địa phương thì ông V có sinh sống, cư trú tại địa phương. Trong quá trình chung sống bà L và ông V có mâu thuẫn và hiện đang sống ly thân.

Như vậy giữa bà L và ông V có nhiều mâu thuẫn. Bà L yêu cầu ly hôn với ông V là phù hợp. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông V ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Đình V.

Về con chung: Bà L và ông V có 02 con chung là cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 05/02/1997; cháu Trần Đình Đ, sinh này 10/9/1998. Các cháu Đ, Đ1 đã trưởng thành sống với ai là theo nguyện vọng của các cháu.

Về tài sản chung và nợ chung:

Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà L, ông V có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí:

Bà L phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà L đã nộp, bà L đã nộp xong án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Đình V.

Về quan hệ con chung: Bà L và ông V có 02 con chung là cháu Trần Đình Đ, sinh ngày 05/02/1997; cháu Trần Đình Đ, sinh này 10/9/1998. Các cháu Đ, Đ1 đã trưởng thành sống với ai là theo nguyện vọng của các cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà L, ông V có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số 0008285 ngày 12/10/2022, bà L đã nộp xong án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/01/2024), đương sự có quyền kháng cáo; đối với bà L, ông V vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

Cỡ chữ