- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "DƯƠNG THỊ THANH H - ĐỖ THANH B"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H đối với bị đơn anh Đỗ Thanh B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng cho con.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang;
Ông Nguyễn Văn Độ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thanh H, sinh năm 1995; nơi thường trú: ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đỗ Thanh B, sinh năm 1991; nơi thường trú: ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B chung sống năm năm 2016, có tổ chức lễ cưới, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương cấp ngày 12 tháng 8 năm 2016. Hôn nhân tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung với gia đình bên chồng tại tổ 2, ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Chung sống được 02 năm thì nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Không còn chung sống với nhau từ tháng 03/2023 đến nay, chị H đã chuyển ra nhà trọ ở và đi làm công nhân Công ty M2 tại Khu công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh B không có trách nhiệm với gia đình, không hỗ trợ chi trả các chi phí sinh hoạt trong gia đình. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay.
Nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Chị H làm đơn này tôi yêu cầu ly hôn với anh B
Quá trình chung sống có 02 con chung: Đỗ Dương Tường V, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2017 và Đỗ Dương Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2020. Hai con chung hiện đang sống chung với anh B tại tổ 2, ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Chị H đang làm công nhân thời vụ tại Công ty M2 tại Khu công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, nên chưa có hợp đồng lao động, thu nhập mỗi tháng 7.000.000 đồng.
Anh B hiện làm công nhân công ty nào không rõ, lương mỗi tháng khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.
Do con chung hiện đang chung sống với anh B tại xã L, chị H đồng ý giao con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị H đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn anh Đỗ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, anh B không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc yêu cầu ly hôn của chị H và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B.
Theo biên bản xác minh ngày 09 tháng 12 năm 2023, Công chức Tư pháp hộ tịch xã L, huyện B cung cấp như sau: Chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B là vợ chồng, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B vào năm 2016. Quá trình chung sống tại địa phương phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Về nguyên nhân mâu thuẫn chị H và anh B không trình báo nên địa phương không có thông tin.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Đỗ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 của BLTTDS. Việc xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 95 đến 98 của BLTTDS. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại các Điều 196, 196 của BLTTDS. Thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 của BLTTDS.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt chị H theo khoản 1 Điều 228 của BLTTDS; Bị đơn anh Đỗ Thanh B được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Bình theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị H và anh B chung sống với nhau và đăng ký kết hôn năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 12 tháng 8 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, có hai người con chung là cháu Đỗ Dương Tường V (sinh ngày 06/01/2017) và cháu Đỗ Dương Tuấn K (sinh ngày 15/8/2020), cháu V và cháu K hiện đang sống cùng anh B tại xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Sau thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B, không có trách nhiệm với gia đình, không hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong gia đình từ đó dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và không còn thương yêu, chăm sóc gia đình. Chị H và anh B đã sống ly thân từ tháng 03/2023 cho đến nay. Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh B không tham gia làm việc dù được triệu tập hợp lệ.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc chị H và anh B là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình như vậy đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Đỗ Dương Tường V (sinh ngày 06/01/2017) và cháu Đỗ Dương Tuấn K (sinh ngày 15/8/2020), hiện hai cháu V và K đang sống cùng anh B. Chị H đồng ý giao cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, mỗi tháng chị H trợ cấp nuôi 02 con chung số tiền 3.000.000 đồng. Xét thấy, hai cháu V và K còn nhỏ, từ khi chị H và anh B sống ly thân đến nay hai cháu sống chung với anh B, căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao hai cháu V và K cho anh B chăm sóc hai cháu.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H đối với bị đơn anh Đỗ Thanh B; giao hai con chung cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Đỗ Thanh B có nơi cư trú tại ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Dương Thị Thanh H khởi kiện anh Đỗ Thanh B, yêu cầu ly hôn, giải quyết về nuôi con chung, cấp dưỡng cho con, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Chị Dương Thị Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đỗ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: mối quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B là hôn nhân hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn anh B do anh B thiếu trách nhiệm với gia đình, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, có cơ sở xác định anh B vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị H yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B có 02 con chung là cháu Đỗ Dương Tường V, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2017 và Đỗ Dương Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2020. Con chung hiện đang chung sống với anh B, khi ly hôn chị H đồng ý giao con chung cho anh B nuôi dưỡng, chị H đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét, con chung đang chung sống với anh B, anh B có nơi ở, việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con, Hội đồng xét xử xét giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về nội dung vụ án là phù hợp.
Về án phí: Chị Dương Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, khoản 1 Điều 59, các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Thanh H đối với bị đơn anh Đỗ Thanh B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng cho con.
Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B.
Về nuôi con chung: giao cháu Đỗ Dương Tường V, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2017 và cháu Đỗ Dương Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2020 cho anh Đỗ Thanh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V, cháu K mỗi cháu, mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng. Việc cấp dưỡng cho con thực hiện từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu V, cháu K đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Thanh H và anh Đỗ Thanh B không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Dương Thị Thanh H phải chịu 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010402 ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng. Chị H còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ánh Tuyết |