- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "H- V"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04/01/2024 V/v Tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Chí Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 381/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phùn Thị H, sinh năm 1989;
- Bị đơn: Anh Lê Đình M, sinh năm 1995;
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn N, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Quảnh Ninh.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Toà án, nguyên đơn là chị Phùn Thị H trình bày:
Trong thời gian, chị H và anh Trần Văn N là vợ chồng thì có phát sinh mâu thuẫn vào tháng 9/2019, nên chị H đã nảy sinh tình cảm và có quan hệ với anh Lê Đình M. Đến ngày 24/6/2022, chị H đã sinh cháu Lê Mạnh D. Do chị H và anh N vẫn đang là vợ chồng nên chị chưa đi khai sinh và cũng không khai với Tòa án khi ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ninh theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2022. Tại Quyết định ly hôn không giải quyết về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D. Đến ngày 19/8/2023, anh M và cháu D đã xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm kết luận anh M và cháu D có cùng quan hệ huyết thống bố - con. Vì vậy, chị H đã làm đơn yêu cầu Toà án xác định anh M là cha đẻ của của cháu D.
Tại bản tự khai và quá trình làm việc tại Toà án, bị đơn là anh Lê Đình M trình bày:
Anh M và chị H có quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2020. Khi đó, anh được biết chị H đang có mâu thuẫn với anh N nên đã có quan hệ tình cảm với nhau. Đến đầu năm 2022, chị H sinh cháu D thì anh được biết cháu D và anh N không có quan hệ huyết thống. Cùng năm đó, chị H và anh N ly hôn. Đến ngày 19/8/2023, anh M và cháu D đã xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm kết luận anh M và cháu D có cùng quan hệ huyết thống bố - con. Vì vậy, anh đề nghị Toà án xác định anh là cha ruột của cháu D.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn N trình bày:
Trước đây, anh và chị Phùn Thị H có quan hệ vợ chồng, đến năm 2022 anh và chị H đã làm thủ tục ly hôn. Khi giải quyết ly hôn, anh không biết chị H có quan hệ tình cảm với ai hay không và cũng không biết chị H đã sinh cháu Lê Mạnh D, do đó khi ly hôn, anh không yêu cầu Tòa án xem xét về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D. Đến nay được Tòa án thông báo kết quả xét nghiệm kết luận anh Lê Đình M và cháu D có cùng quan hệ huyết thống bố - con. Chị H có đơn yêu cầu Toà án xác định anh M là cha đẻ của cháu D thì anh không có ý kiến gì. Đồng thời, do công việc của anh bận nên không có thời gian đến tham gia phiên họp, phiên toà xét xử vụ án, đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.
Theo Kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền-Genlab, kết luận: Lê Đình M (sinh ngày 25/11/1995, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx ngày cấp 22/12/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư, Việt Nam có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Lê Mạnh D, sinh ngày 24/6/2022, giấy chứng sinh ngày 27/6/2022, tại Trung tâm y tế thành phố C độ tin cậy > 99,9999%.
Tại phiên tòa, chị Phùn Thị H, anh Lê Đình M và anh Trần Văn N đều vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; Việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 88, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H, xác định anh Lê Đình M là cha đẻ của cháu Lê Mạnh D, sinh ngày 24/6/2022. Về án phí: Do quan hệ tranh chấp là xác định cha cho con, nên anh M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lê Đình M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã L, thành phố C tỉnh Hải Dương. Chị H yêu cầu Toà án giải quyết về tranh chấp xác định cha cho con. Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, Hải Dương.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Chí Linh tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung:
Chị Phùn Thị H và anh Trần Văn N trước đây là vợ chồng. Trong thời gian chị H và anh N là vợ chồng, chị H trình bày chị và anh N có xảy ra mâu thuẫn nên chị đã có quan hệ tình cảm với anh Lê Đình M. Ngày 24/6/2022, chị H sinh cháu Lê Mạnh D khi vẫn tồn tại hôn nhân hợp pháp với anh N, chị H không nói cho anh N biết, và chị H biết cháu D không phải là con của anh N nên chị H đã không đi khai sinh cho cháu D. Chị H và anh N đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tại Quyết định về phần con chung không có nội dung cháu D là con của chị H và anh N. Trong lời khai của chị H và anh M đều khẳng định cháu D là con chung của anh chị. Anh N cũng khẳng định cháu D không phải là con đẻ của mình. Mặt khác, theo Kết quả xét nghiệm ADN của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền-Genlab, kết luận anh Lê Đình M có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Lê Mạnh D. Vì vậy, chị H yêu cầu Toà án xác định anh M là cha đẻ của cháu D do chị H sinh ra là có căn cứ.
Về án phí: Yêu cầu của chị H được chấp nhận, nên anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do quan hệ tranh chấp trong vụ án là xác định cha cho con chưa thành niên, nên căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H.
1. Xác định anh Lê Đình M là cha đẻ cháu Lê Mạnh D, sinh ngày 24/6/2022, giấy chứng sinh số 12, quyển số 02, ngày 27/6/2022, nơi cấp: Trung tâm y tế thành phố C, tỉnh Hải Dương do chị Phùn Thị H sinh ra.
2. Về án phí: Do quan hệ tranh chấp là xác định cha cho con, nên anh M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh N được quyền kháng cáo phần bản án liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Chí Linh; - Đương sự; - UBND xã L, TP. Chí Linh; - Chi cục THADS TP. Chí Linh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Thị Luyến |