vanban.org

Bản án 01/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn N. Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn H phải trả cho nguyên đơn anh Trần Văn N số tiền 10.000.000đ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Nhâm - Hà Kiện đòi nợ"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST
Ngày: 18 - 01 - 2024
V/v “Kiện đòi nợ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Trang và bà Nguyễn Thị Nguyệt.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai vụ án thụ lý số 34/2023/TLST-DS ngày 06/10/2023 về việc “Kiện đòi nợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXX-ST, ngày 03/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn anh Trần Văn N trình bày:

Ngày 08/12/2021 khi anh N đang chăn trâu tại Đ thuộc xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, anh N để trâu ngoài đồng hoang rồi về nhà ăn cơm, trong lúc anh N đang ăn cơm, do sơ suất không để ý nên trâu của anh N đã ăn cỏ của anh Nguyễn Văn H là người cùng thôn. Sau đó anh H đã bắt giữ trâu của anh N, thấy vậy anh N ra xin trâu nhưng anh H đã không cho và đã dùng tay đánh gây thương tich cho anh N với tỷ lệ thương tích là 10%. Sau khi sự việc xảy ra thì anh N đã làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã bắt giam anh H, đến ngày 20 và ngày 21 tháng 9 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã đưa vụ án ra xét xử Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Hình sự diễn ra vào ngày 21/9/2022 giữa anh N và Nguyễn Văn H đã thỏa thuận với nhau về việc H bồi thường dân sự cho anh N với tổng số tiền 40.000.000đ và anh N đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với Nguyễn Văn H, nên Tòa án đã Quyết định đình chỉ vụ án Hình sự đối với Nguyễn Văn H. Trong giấy thỏa thuận bồi thường giữa anh N và H viết, thì H mới bồi thường tiền mặt cho cho anh N số tiền 30.000.000đ, còn 10.000.000đ anh N đồng ý cho H nhận nợ trong thời hạn 01 năm (tức là đến ngày 21/9/2023 anh H phải trả cho anh N). Đến nay anh H vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận do vậy anh N làm đơn khởi kiện buộc anh H phải trả nợ cho anh N số tiền 10.000.000đ.

Quá trình hòa giải và tại phiên tòa Nguyễn Văn H trình bày:

Anh H thừa nhận có việc anh H còn nợ anh N với số tiền là 10.000.000đ theo biên bản thoả thuận ngày 21/9/2022 như anh N đã trình bày. Anh H chưa trả là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, tại phiên tòa anh H đề nghị xin được trả cho anh N mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi trả hết nợ, nếu anh N không đồng ý thì anh H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tài liệu do các bên cung cấp:

Nguyên đơn anh Trần Văn N cung cấp Biên bản về việc bồi thường dân sự lập ngày 21/9/2022; còn bị đơn anh Nguyễn Văn H không cung cấp tài liệu gì.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, trong quá trình tham gia vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72, 76 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã chấp hành tương đối tốt các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn chịu số tiền án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền còn nợ của nguyên đơn theo biên bản về việc bồi thường dân sự; bị đơn có địa chỉ tại thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xác định đây là vụ án “Kiện đòi nợ” và thụ lý giải quyết là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 10.000.000đ theo Giấy thỏa thuận nhận nợ tại biên bản về việc bồi thường dân sự ngày 21/9/2022, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn H không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn N, đồng thời thừa nhận còn nợ anh N số tiền 10.000.000đ theo như biên bản thỏa thuận lập ngày 21/9/2022, tại phiên tòa anh H đề nghị được trả cho anh N mỗi tháng 1000.000đ cho đến khi trả hết toàn bộ số tiền còn nợ nhưng đã không được anh N đồng ý. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc anh Nguyễn Văn H còn nợ của anh Trần Văn N số tiền 10.000.000đ theo như biên bản về việc bồi thường dân sự các bên lập ngày 21/9/2022 là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường và nhận nợ theo giấy lập ngày 21/9/2022 giữa hai bên là tự nguyện, hai bên xác định thời hạn trả, nên đây được xem là thỏa thuận nhận nợ có thời hạn. Tại thời điểm xác lập thỏa thuận các bên đương sự đều có đủ năng lực hành vi dân sự, xuất phát từ sự tự nguyện thoả thuận của hai bên, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên sự thỏa thuận ngày 21/9/2022 giữa các bên là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật, anh Nguyễn Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc anh Trần Văn N khởi kiện là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn N về việc buộc anh Nguyễn Văn H phải trả số tiền 10.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án anh N không yêu cầu anh H trả lãi nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng và đề nghị về nội dung vụ án là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 274; 275; 280; 351; 353 của Bộ luật Dân sự;

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn N. Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn H phải trả cho nguyên đơn anh Trần Văn N số tiền 10.000.000đ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn H phải chịu 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ