- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng bảo lãnh tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/TCDS-ST Ngày: 22-3-2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Độ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Chuyên và bà Đình Thị Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hương, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Loan và bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2022/TLST-TCDS ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-TCDS ngày 10 tháng 02 năm 2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 01/2023/TB-XX ngày 06 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái; địa chỉ trụ sở: Tổ 10, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc Th- Giám đốc; trú tại: Tổ 0x, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim H- Phó giám đốc Quỹ BLTD; nơi cư trú: Tổ dân phố Ph, phường Ng, thành phố Y, tỉnh Yên Bái (theo văn bản ủy quyền số 76/GUQ- QBLTD ngày 07-11-2022). Vắng mặt.
2. Bị đơn: Hợp tác xã Cao Thắng; địa chỉ trụ sở mới: Thôn Ng, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; địa chỉ trụ sở cũ: Tổ 0x (nay là tổ 0x), phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; người đại diện theo pháp luật: Bà Cao Thị Ngọc A- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc Hợp tác xã Cao Thắng. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Cao Minh L– Nguyên chủ nhiệm HTX C; địa chỉ: Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt;
+ Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B- Chủ tịch Hội đồng quản trị; địa chỉ trụ sở: Số 1xx, đường Tr, quận H, thành phố Hà Nội; người được ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc T; trú tại: Thôn Q, xã Th, thị xã S, thành phố Hà Nội (Phó giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Yên Bái); địa chỉ trụ sở chi nhánh: Số 8xx, đường Đ, tổ 0x, phường Đ, thành phố Y. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H trình bày:
Ngày 06/10/2010, Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái (viết tắt Quỹ BLTD) Bên bảo lãnh
- Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Yên Bái (viết tắt Ngân hàng Vietinbank – CN Y), bên nhận bảo lãnh và Hợp tác xã Cao Thắng (viết tắt HTX C), bên được bảo lãnh ký Hợp đồng bảo lãnh tín dụng số 38/2010/HĐBLTD bảo lãnh cho HTX C vay vốn lưu động của Ngân hàng Vietinbank - CN Y để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh; Giá trị bảo lãnh 800.000.000 đồng; Thời hạn bảo lãnh 12 tháng, kể từ ngày 06/10/2010 đến ngày 06/10/2011, HTX C phải trả cho Quỹ BLTD các khoản phí bảo lãnh tín dụng bằng 0,5%/ năm tính trên số tiền bảo lãnh kể từ ngày ký hợp đồng.
Sau khi vay được vốn, HTX C không thanh toán khoản nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Vietinbank – CN Y, nên Ngân hàng đã khởi kiện HTX C tại Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái. Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2014/KDTM-ST ngày 16/6/2014 đã quyết định: HTX C phải trả cho Ngân hàng Vietinbank – CN Y tính đến ngày 25/3/2014 tiền gốc là 1.534.020.000 đồng, tiền lãi là 1.614.778.942 đồng đến hết ngày 30/11/2014.
Ngày 22/9/2015, Quỹ BLTD và Ngân hàng Vietinbank – CN Y đã thống nhất, Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái trả nợ thay cho HTX C với số tiền gốc là 471.457.500 đồng, ngày 31/12/2015 trả 100.000.000 đồng, ngày 30/9/2016 trả 200.000.000 đồng, đến ngày 31/12/2016 trả nốt số tiền còn lại là 171.457.500 đồng. Đúng hạn Quỹ BLTD đã thanh toán cho Vietinbank – CN Y là 300.000.000 đồng theo thỏa thuận; số tiền còn lại chưa trả.
Ngày 26/3/2016, Quỹ BLTD có đơn đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét lại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo thủ tục giám đốc thẩm. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/1017/KDTM-GĐT ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2014/QĐST-KDTM ngày 16/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam với bị đơn là HTX C, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái thụ lý giải quyết lại vụ án. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái quyết định “ … Trường hợp HTX C không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng số 06-10 ký ngày 24-02-2010 thì Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái có trách nhiệm trả nợ thay với số tiền đã nhận bảo lãnh còn lại là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)”.
Căn cứ bản án trên ngày 24/9/2019, Quỹ BLTD đã trả số tiền nợ gốc còn lại của HTX C là 171.457.500 đồng cho Ngân hàng Vietinbank - CN Y. Số tiền lãi là 328.542.500 đồng đã được Ngân hàng miễn toàn bộ theo Quyết định số 02/QĐ-CNYB-PTH ngày 06/11/2020.
Sau khi Quỹ BLTD trả nợ thay cho HTX C theo Hợp đồng Bảo lãnh tín dụng, thì HTX C phải ký văn bản nhận nợ vay bắt buộc với Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái với số tiền đã trả nợ thay, thời hạn vay vốn tối đa là 6 tháng, lãi suất bằng 150% lãi suất vay mà Ngân hàng Vietinbank - CN Y và HTX C thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 06-10/HĐTD ngày 24/02/2010.
Khoản nợ nêu trên có thời hạn thanh toán là 6 tháng, nhưng HTX C không hợp tác ký nhận nợ bắt buộc theo cam kết trong hợp đồng, Quỹ BLTD liên tục yêu cầu HTX C trả nợ, nhưng người đại diện theo pháp luật là ông L không thực hiện, sau đó HTX C thay đổi người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Ngọc A hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc HTX C cũng được đôn đốc yêu cầu trả nợ, nhưng bà Ngọc A không trả nợ mà còn lẩn tránh.
Do đó, Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết buộc HTX C phải trả số tiền là 942.113.500 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 471.457.500 đồng; nợ lãi là 470.656.000 đồng (lãi được tính theo lãi suất quá hạn là 12% năm x 150%, tính từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày xét xử là ngày 22/3/2023).
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn HTX C - người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Ngọc A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Quỹ BLTD.
Tại bản tự khai ngày 01/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Vietinbank - CN Y, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Ngọc T trình bày:
Ngày 24/02/2010 HTX Cký hợp đồng tín dụng số 06-10/HĐTD với Ngân hàng Vietinbank - CN Y vay vốn ngân hàng số tiền vay là 2.500.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng, (kể từ ngày 24/02/2010 đến ngày 24/02/2011). Ngày 06/10/2010, Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái, Ngân hàng Vietinbank – CN Y và HTX C đã ký Hợp đồng bảo lãnh tín dụng số 38/2010/HĐBLTD giá trị hợp đồng bảo lãnh là 800.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số 06-10/HĐTD, HTX C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận từ ngày 08/02/2011, nên Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2014/KDTM-ST ngày 16/6/2014, Quyết định HTX C phải trả cho Ngân hàng Vietinbank – CN Y số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 25/3/2014 tiền gốc là: 1.534.020.000 đồng; số tiền lãi là: 1.614.778.942 đồng; đến hết ngày 30/11/2014 nếu HTX C không trả đủ nợ, Vietinbank -CN Y có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Ngày 22/9/2015, Qũy BLTD và Viettinbank – CN Y đã thống nhất: Quỹ BLTD trả nợ thay cho HTX C với số tiền gốc là 471.457.500 đồng, Quỹ BLTD đã thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ của HTX C tổng số tiền là 300.000.000 đồng như đã thống nhất, số tiền còn lại chưa trả là 171.457.500 đồng. Sau đó, do Quyết định 02/2014/KDTM-ST ngày 16/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái bị hủy và vụ án được giải quyết lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2017/KDTM-ST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Báo đã Quyết định “ …Trường hợp HTX C không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng số 06-10 ký ngày 24-02-2010 thì Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái có trách nhiệm trả nợ thay với số tiền đã nhận bảo lãnh còn lại là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)”.
Căn cứ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, ngày 24/9/2019 Qũy BLTD đã trả số tiền gốc còn lại là 171.457.500 đồng.
Đến nay Quỹ BLTD đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho HTX C theo HĐBLTD số 38/2010/HĐBLTD ngày 06/10/2010, tổng số tiền gốc là: 471.457.500 đồng, số tiền lãi là 328.542.500đồng (đã được Ngân hàng miễn lãi cho Quỹ BLTD theo Quyết định số 02/QĐ-CNYB-PTH ngày 06/11/2020). Hai bên chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh, theo Văn bản thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh ngày 24/12/2020. Nay Quỹ BLTD khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái buộc HTX C phải có nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ BLTD là có căn cứ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đúng mối quan hệ pháp luật, tiến hành xét xử theo đúng trình tự tố tụng, đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
Về nội dung: Theo hợp đồng bảo lãnh tín dụng số 38/HĐ-BLTD ngày 06/10/2010 thì Quỹ BLTD đã bảo lãnh cho HTX C số tiền 800.000.000 đồng và HTX C có nghĩa vụ phải thánh toán cho Quỹ BLTD sau khi Quỹ BLTD trả hết số tiền bảo lãnh cho Ngân hàng Viettinbank – CN Y. Ngày 24/9/2019 Quỹ BLTD đã trả thay cho HTX C tổng số tiền gốc là 471.457.500 đồng, tiền lãi là 328.542.500 đồng được Ngân hàng Vietinbank – CN Y miễn theo Quyết định số 02/QĐ-CNYB-PTH ngày 06/11/2020, sau khi Quỹ BLTD đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho HTX C, thì HTX C không ký nhận nợ bắt buộc, không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh tín dụng số 38/2010/HĐBLTD ngày 06/10/2010, nay Quỹ BLTD khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc HTX C phải trả tiền gốc và lãi là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều, 361; 362; 363; 364; 367; 389 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái, buộc bị đơn HTX C phải trả cho Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái, tổng cộng số tiền là 942.113.500 đồng, trong đó tiền gốc 471.457.500 và tiền lãi 470.656.000 đồng.
Về án phí: HTX C phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tín dụng”, bị đơn HTX C có địa chỉ trụ sở tại: Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Quỹ BLTD là bà Phạm Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt; người đại diện theo pháp luật của bị đơn HTX C: Bà Cao Thị Ngọc A; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Minh L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Vietinbank – CN Y: Ông Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Việc xác lập giao dịch hợp đồng được thực hiện tại thời điểm năm 2010; căn cứ Điều 668 của Bộ luật dân sự 2015 thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Vietinbank – CN Y đều xác định: Ngày 06/10/2010 giữa Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái, Ngân hàng VietinBank- CNY và HTX C ký kết Hợp đồng bảo lãnh tín dụng số: 38/2010/HĐBLTD bảo lãnh cho HTX C, giá trị bảo lãnh là 800.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Quỹ BLTD đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ cho Ngân hàng Vietinbank – CN Y thay cho HTX C số tiền gốc là: 471.457.500 đồng (trong phạm vi bảo lãnh). Ngày 24/9/2019 Quỹ BLTD đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh đối với Ngân hàng Vietinbank – CN Y và chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh theo Hợp đồng tín dụng số 38/2010/HĐBLTD ngày 06/10/2010. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh, Quỹ BLTD đã trực tiếp làm việc nhiều lần và đôn đốc HTX C- người đại diện theo pháp luật là ông Cao Minh L, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của HTX C hiện nay là bà Cao Thị Ngọc A phải ký văn bản nhận nợ bắt buộc thời hạn vay tối đa là 06 tháng, lãi suất bằng 150% và phải trả khoản nợ trên, nhưng HTX Clẩn tránh trách nhiệm không trả nợ.
Xét thấy: Đây là Hợp đồng bảo lãnh tín dụng có thời hạn, các bên tham gia giao kết hợp đồng đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên, nên các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ theo thỏa thuận của hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Việc HTX C không trả nợ cho Quỹ BLTD theo thỏa thuận trong Hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, Quỹ BLTD khởi kiện yêu cầu HTX C phải trả nợ là có cơ sở, cần buộc HTX C phải trả số tiền gốc cho Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái.
Về yêu cầu trả lãi: Kể từ tháng 01/2016 đến nay HTX C chưa trả lãi lần nào, nay Quỹ BLTD yêu cầu HTX C có nghĩa vụ trả lãi theo lãi suất là 12%/năm và chịu lãi suất chậm trả là 150% theo hợp đồng, yêu cầu trả lãi với lãi suất chậm trả của Quỹ BLTD là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 305; Điều 476 BLDS năm 2005. Do đó, cần chấp nhận, buộc HTX C phải trả khoản tiền lãi của số tiền 471.457.500 đồng, từ ngày 01-01-2016 đến hết ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/3/2023.
Về số tiền lãi: Nay QBLTD chỉ yêu cầu tính lãi trung bình một tháng là 30 ngày/360 ngày, tiền lãi từ ngày 01/01/2016 đến ngày 20/10/2022 số tiền là 435.316.000 đồng; tiền lãi từ ngày 21/10/2022 đến ngày 22/3/2023 tính theo số ngày thực tế/ 365 ngày là 35.339.938 đồng (làm tròn 35.340.000 đồng). Tổng cộng số tiền lãi là 470.656.000 đồng. Cách yêu cầu tính lãi nêu trên của Quỹ BLTD là tự nguyện, có lợi cho HTX C, nên được chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên: Cần buộc HTX C phải trả cho Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái tổng cộng số tiền là: 942.113.500 đồng, trong đó, tiền gốc là 471.457.500 đồng, tiền lãi là 470.656.000 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng (142.113.500 đồng x 3%) là 4.263.000 đồng. Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 40.263.000 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 361; 362; 363; 364; 367 và Điều 389 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ vào các Điều 357; Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái.
2. Buộc bị đơn Hợp tác xã C phải trả cho nguyên đơn Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái số tiền là: 942.113.500 đồng (chín trăm bốn mươi hai triệu một trăm mười ba nghìn năm trăm đồng), trong đó: Tiền gốc là 471.457.500 đồng, tiền lãi là: 470.656.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành án xong còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
3. Về án phí:
+ Hợp tác xã C phải chịu 40.263.000 đồng (Bốn mươi triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Trả lại cho Quỹ BLTD tỉnh Yên Bái số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.967.000 đồng (mười tám triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0000469 ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Yên Bái; - VKS TP Yên Bái; - Chi cục THADS tp Yên Bái; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Độ |