- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Về việc yêu cầu hủy thông báo không tiếp tục Ký kết hợp đồng và quyết định kết thúc hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 34 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/LĐ-PT Ngày: 14-11-2023 V/v: “Về việc yêu cầu hủy thông báo không tiếp tục Ký kết hợp đồng và quyết định kết thúc hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:1. Ông Trần Quốc Vũ;
2. Ông Hồ Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên - là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần An - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLPT - LĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023,về việc “Yêu cầu hủy thông báo không tiếp tục tái ký hợp đồng và quyết định kết thúc hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại”.
Do bản án lao động sơ thẩm số: 01/2023/LĐ-ST ngày 23/8/2023, của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ K, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số I, hẻm S, đường số D, khu phố N, phường N, thành phố T tỉnh Tây Ninh; có mặt.
2. Bị đơn: T2; địa chỉ: Số B đường C, khu phố D, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Thanh T- Chức vụ Bí thư. Người đại diện hợp pháp ông Phạm Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: A đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
3. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Mỹ K là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ K trình bày:
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 bà và Tỉnh Đoàn Tây N có ký hợp đồng lao động thời hạn 02 năm, kể từ 01/8/2020 đến ngày 31/7/2022, với chức danh làm Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3; địa chỉ số B, đường C, khu phố D, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Trong hợp đồng có điều 6 quy định về việc gia hạn hợp đồng với điều kiện cuối năm 2021 bà hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên sẽ gia hạn hợp đồng đến ngày 31/7/2025. Qua kết quả đánh giá năm 2021 bà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (năm 2020 bà không được đánh giá do bà chưa đủ thời gian công tác, nhưng không hiểu vì sao ngày 17/6/2022, bà nhận được thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT ngày 15/6/2022 của ban thường vụ tỉnh Đoàn về việc không tái ký hợp đồng lao động với bà mà không trao đổi hay thông tin trước với bà.
Sau khi nhận được thông báo này, bà nhiều lần gửi văn bản yêu cầu Tỉnh Đoàn giải thích, làm rõ lý do nêu trong thông báo,Tỉnh Đoàn làm việc và có văn bản trả lời cho bà nhưng không giải thích những nội dung bà thắc mắc, sau đó bà nhận được Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCTK ngày 29/7/ 2022 của ban thường vụ tỉnh Đoàn về việc kết thúc hợp đồng với bà, bà không đồng ý với Quyết định này và gửi đơn khiếu nại đến Liên đoàn Lao động tỉnh T, Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh T, Liên đoàn Lao động tỉnh T trả lời không thuộc thẩm quyền, Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh T giải quyết bằng Quyết định số 163/QĐ -TTr ngày 19/12/2022. Bà không đồng ý và bà nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Trong Thời gian chờ Tòa án giải quyết, ngày 23/3/2023 bà nhận Quyết định số 48-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 13/02/2023 của ban thường vụ Tỉnh Đoàn về việc hủy kết quả xếp loại năm 2021 đối với bà.
Ngày 23/3/2023, bà nhận được công văn số 288-CV/TĐTN-TCKT ngày 23/02/2023 của ban thường vụ Tỉnh Đoàn về việc thực hiện Quyết định số 163/QĐ - TTr, ngày 19/12/2022 của Thanh tra Sở L. Ngày 29/3/2023, bà nhận được Quyết định số 54-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 16/02/2023 của ban thường vụ Tỉnh Đoàn về việc hủy công nhận danh hiệu thi đua năm 2021 đối với bà. Nay bà yêu cầu:
- Hủy thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT ngày 15/6/2022 của ban thường vụ tỉnh Đoàn về việc không tái ký hợp đồng lao động với bà và Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCTK ngày 29/7/2022 của ban T4 về việc kết thúc hợp đồng với bà
- Tiếp tục gia hạn hợp đồng lao động ký ngày 31/7/2020 theo thỏa thuận
- Bồi thường các khoản thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do Công ty gây ra kể từ ngày Công ty Đ2 chấp dứt hợp đồng đến ngày Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng với bà cụ thể:
Các khoản được hưởng theo hợp đồng lao động nhưng bị cắt từ tháng 8/2022 đến nay.
1. Tiền lương mỗi tháng 8.418.500 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày Tòa án xét xử vụ án, tạm tính đến tháng 5 năm 2023 là 84.185.000 đồng.
2. Chế độ bảo hiểm hàng tháng BHXH, BHYT, BHTN mỗi tháng 1.809.977 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày Tòa án xét xử, tạm tính đến tháng 5 năm 2022 là 18.099.775 đồng.
3. Phúc lợi những ngày nghĩ lễ, tết 1.400.000 đồng
4. Tiền phụ cấp hàng tháng bao gồm tiền ăn giữa ca và tiền xăng xe, mỗi tháng 930.000 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày Tòa án xét xử, tạm tính đến tháng 5 năm 2022 là 9.300.000 đồng.
5. Chế độ phép năm còn 12 ngày không sử dụng năm 2022: 382.659 đ x 12 tháng là 4.591.908 đồng.
Tổng cộng: 117.576.683 đồng.
Các khoản bồi thường và chấm dứt hợp đồng lao động trái Pháp luật bao gồm:
- Bồi thường tiền lương ít nhất 4 tháng lương 8.418.500 x 4 = 33.674.000 đồng (theo quy định mục 1 và mục 3 Điều 41 BL Lao động 2019).
- Bồi thường do vi phạm thời gian báo trước 8.418.500 x 3 = 25.255.500 đồng ( theo khoản a mục 2 Điều 7, chương III, Nghị định 145/ 2020/NĐ-CP).
- Bồi thường tổn thất tinh thần, uy tín, hình ảnh cá nhân (5 tháng lương) 8.418.500 x 5 = 42. 092,500 đồng, tổng cộng: 101.022.000 đồng.
Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 218. 598. 638 đồng (hai trăm mười tám triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi tám đồng).
Ông Phạm Văn T1 đại diện cho Tỉnh Đ, trình bày:
1/ Đối với yêu cầu hủy “Thông báo số 506”, “Quyết định 685” và yêu cầu tiếp tục thực hiện và gia hạn hợp đồng lao động ký ngày 31/7/2020 theo thỏa thuận thì thấy rằng:
Ngày 31/7/2020, Tỉnh Đoàn Tây Ninh ký Hợp đồng lao động với bà Trần Thị Mỹ K, loại hợp đồng lao động xác định thời hạn: Từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/7/2022, chức danh chuyên môn là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3. Căn cứ theo thời hạn Hợp đồng trên thì trước ngày kết thúc Hợp đồng lao động, Tỉnh đoàn T2 đã ban hành Thông báo số 506 về việc không tiếp tục ký hợp đồng đối với chị K và ban hành Quyết định số 685 về việc kết thúc hợp đồng đối với chị K.
Việc ban hành 02 văn bản trên là hoàn toàn phù hợp theo quy định của Ban, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn về tiêu chuẩn chức danh, điều kiện quy trình bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý Công ty và yêu cầu của Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn về việc kiện toàn nhân sự; đồng thời, là phù hợp theo quy định của Bộ Luật Lao động năm 2019 về việc chấm dứt hợp đồng lao động.
Việc bà K cho rằng “Trong hợp đồng tại Điều 6 có quy định về việc gia hạn hợp đồng với điều kiện cuối năm 2021 tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên thì sẽ gia hạn hợp đồng đến ngày 31 tháng 7 năm 2025, qua kết quả đánh giá năm 2021 tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhưng không hiểu vì sao ngày 17/6/2022 tôi nhận được thông báo số 506/TB/TĐTN TCKT ngày 15/6/2022 về việc không tái ký hợp đồng lao động với tôi” để yêu cầu Tỉnh đoàn gia hạn Hợp đồng đến năm 2025 thì tỉnh Đoàn có ý kiến như sau:
Tại Điều 6 của Hợp đồng lao động có quy định: “Trong thời gian hợp đồng, cuối năm 2021 sẽ đánh giá hiệu quả công việc, nếu bên B được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên thì bên A sẽ gia hạn hợp đồng đến ngày 31/7/2025”.
Ngày 10/12/2021, Tỉnh Đoàn có ban hành Thông báo số 410-TB/TĐTN-TCKT về kết quả đánh giá, xếp loại tập thể, cán bộ và người lao động của đơn vị Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 năm 2021, trong đó kết quả đánh giá bà Trần Thị Mỹ K “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, cùng ngày Tỉnh Đoàn ban hành Quyết định 561- QĐ/TĐTN-TCKT công nhận danh hiệu thi đua “Lao động tiên tiến” cho cá nhân bà Trần Thị Mỹ K. Tuy nhiên, kết quả đánh giá này là dựa trên các báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh không khách quan, không đúng với kết quả hoạt động thực tế của Công ty do bà K báo cáo, cụ thể:
Từ tháng 8/2022 đến tháng 12/2022, Ban T4 đã cho thanh tra lại toàn bộ các hoạt động của Công ty TNHH MTV T3 trong giai đoạn bà K làm Giám đốc thì phát hiện các sai phạm sau:
- Kết quả Kiểm toán cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của năm tài chính 2021 là lỗ chứ không có lãi như trước đó bà K báo cáo (năm 2021 một số chi phí khấu hao tài sản cố định và chi phí thanh lý 138 ha cao su đã không đưa vào hoạch toán theo đúng quy định);
- Việc ký kết hợp đồng với Hợp tác xã Đ3 vượt quá thẩm quyền cho phép về diện tích đất và thời gian liên kết, nội dung ký hợp đồng không tuân thủ nguyên tắc hai bên cùng có lợi (Công ty đã không có lợi ích hoặc lợi nhuận khi thực hiện hợp đồng này);
- Bà K tự ý thực hiện một số dự án khi chưa có chủ trương của Ban thường vụ Tỉnh Đoàn như dự án trồng bơ, đinh lăng.
Từ các lý do trên, Tỉnh Đoàn Tây Ninh đã huỷ kết quả đánh giá, xếp loại hoàn thành nhiệm vụ năm 2021 và đã đánh giá xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” và hủy danh hiệu “Lao động tiên tiến” năm 2021 đối với cá nhân bà Trần Thị Mỹ K (Quyết định số 48 -QĐ/TĐTN-TCKT ngày 15/2/2023, Quyết định số 54-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 16/3/2023).
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, bản thân bà K đã không còn được xem xét danh hiệu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2021 nên không đáp ứng các điều kiện để được tiếp tục gia hạn hợp đồng Tỉnh Đoàn không đồng ý đối với việc yêu cầu tiếp tục thực hiện và gia hạn hợp đồng lao động của bà K.
Cũng như, xét Hợp đồng lao động giữa Tỉnh Đoàn Tây N và bà Trần Thị Mỹ K được giao kết đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, nội dung của hợp đồng phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Tại Quyết định số 163/QĐ-TTr ngày 19/12/2022 của Thanh tra Sở L về việc giải quyết khiếu nại bà Trần Thị Mỹ K đã kết luận).
Và như chúng tôi trình bày ở trên, trước khi Hợp đồng hết hạn (vào ngày 31/7/2022) thì ngày 15/6/2022, Tỉnh Đoàn Tây Ninh ban hành Thông báo 506 về việc không tiếp tục tái ký hợp đồng lao động và ban hành Quyết định số 685 về việc kết thúc hợp đồng đối với Giám đốc Công ty là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 và Khoản 1 Điều 45 Bộ luật Lao động năm 2019
Do vậy, đối với yêu cầu hủy 02 văn bản trên của bà Khánh Tỉnh Đ1 cho rằng không có cơ sở để chấp nhận.
2/ Đối với yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại do chấm dứt Hợp đồng lao động kể từ ngày Công ty Đ2 chấm dứt hợp đồng đến ngày Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng lại với chị K thì thấy rằng:
Tỉnh Đoàn xác định rằng quy trình chấm dứt Hợp đồng lao động với bà K là đúng theo quy định của pháp luật và không vi phạm thời hạn báo trước; cũng như, không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như bà K trình bày, nên đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại mà bà K đề nghị buộc Tỉnh Đ1 phải thanh toán cho bà là hoàn toàn không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những vấn đề nêu trên, Tỉnh Đoàn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ K.
Tại bản án lao động sơ thẩm số: 01/2023/LĐ-ST ngày 23/8/2023, của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh tuyên xử:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 45 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ K về việc yêu cầu Hủy thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT, ngày 15/6/2023 và Quyết định số 685-QĐ/TĐTN – TCKT, ngày 29/7/2022, của Ban thường vụ Tỉnh Đoàn và yêu cầu bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/8/2023, bà Trần Thị Mỹ K có đơn kháng cáo,yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà K trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện tỉnh Đoàn trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ K. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 01/2023/LĐ-ST ngày 23/8/2023, của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Ngày 23/8/2023, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, ngày 27/8/2023 nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ K có đơn kháng cáo. Kháng cáo của bà K còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố Tụng Dân sự.
Xét kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ K thấy rằng:
Ngày 31/7/2020, tỉnh Đoàn Tây Ninh ký Hợp đồng lao động với bà Trần Thị Mỹ K loại hợp đồng lao động xác định thời hạn là 02 năm: Từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/7/2022, chức danh chuyên môn là giám đốc Công ty TNHH T3.
Ngày 15/6/2022, tỉnh Đoàn Tây Ninh ban hành thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT ngày 15/6/2022, của Ban thường vụ tỉnh Đoàn về việc không tái ký hợp đồng lao động với bà K .
Ngày 29/7/2022, tỉnh Đoàn ra Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCTK của Ban thường vụ tỉnh Đoàn về việc kết thúc hợp đồng với giám đốc Công ty TNHH T3 đối với bà K ( bút lục 12,13).
Bà K yêu cầu hủy thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT ngày15/6/2022, và hủy Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCTK ngày 29/7/2022. Tiếp tục gia hạn hợp đồng lao động ký ngày 31/7/2020 giữa đại diện Tỉnh Đoàn với bà K. Bồi thường các khoản thiệt hại do Tỉnh đoàn không tiếp tục ký kết hợp đồng với bà các khoản được hưởng theo hợp đồng lao động nhưng bị cắt từ tháng 8 năm 2022 đến nay. Tiền lương mỗi tháng là 8.418.500 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày Tòa án xét xử vụ án, tạm tính đến tháng 5 năm 2023 là 84.185.000 đồng. Chế độ bảo hiểm hàng tháng BHXH, BHYT, BHTN mỗi tháng 1.809.977 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày Tòa án xét xử, tạm tính đến tháng 5 năm 2022 là 18.099.775 đồng. Phúc lợi những ngày nghĩ lễ, tết 1.400.000 đồng. Tiền phụ cấp hàng tháng bao gồm tiền ăn giữa ca và tiền xăng xe, mỗi tháng 930.000 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022, đến ngày Tòa án xét xử, tạm tính đến tháng 5 năm 2022 là 9.300.000 đồng. Chế độ phép năm còn 12 ngày không sử dụng năm 2022: Số tiền 382.659 đồng/ tháng x 12 tháng là 4.591.908 đồng.Tổng cộng: 117.576.683 đồng. Các khoản bồi thường và chấm dứt hợp đồng lao động trái Pháp luật bao gồm:Bồi thường tiền lương ít nhất 4 tháng lương 8.418.500 đồng x 4 tháng = 33.674.000 đồng (theo quy định mục 1 và mục 3 Điều 41 BL Lao động 2019). Bồi thường do vi phạm thời gian báo trước 8.418.500 đồng/ tháng x 3 tháng = 25.255.500 đồng. Bồi thường tổn thất tinh thần, uy tín, hình ảnh cá nhân (5 tháng lương) 8.418.500 đồng x 5 tháng = 42. 092,500 đồng, tổng cộng: 101.022.000 đồng.Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 218. 598. 638 đồng (hai trăm mười tám triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi tám đồng).
Bà K cho rằng: Theo thông báo số 410/TB/TĐTN-TCKT về kết quả đánh giá, xếp loại tập thể, cán bộ và người lao động của đơn vị Công ty TNHH T3, bà K được đánh giá “ Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, cùng ngày Tỉnh Đoàn ban hành Quyết định số 561-QĐ/TĐTN-TCKT công nhận danh hiệu thi đua “ Lao động tiên tiến” cho cá nhân bà K. Căn cứ vào kết quả đánh giá xếp loại cuối năm 2021, thì bà K đảm bảo đủ điều kiện được ký lại hợp đồng theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng lao động có ghi “ Trong thời gian hợp đồng, cuối năm 2021 sẽ đánh giá hiệu quả công việc, nếu bên B được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên thì bên A sẽ gia hạn hợp đồng đến ngày 31-7-2025” .
Tỉnh Đ1 cho rằng: Nguyên nhân Tỉnh Đoàn không tiếp tục ký kết hợp đồng lao động với bà K là do bà K không thực hiện đúng theo hợp đồng lao động ngày 31/7/2020, giữa đại diện tỉnh Đoàn với bà K. Trong khi hợp đồng lao động bà K có thẩm quyền ký hợp đồng giới hạn giá trị tương ứng của hợp đồng là không quá 01 ( một) tỷ đồng được quy định khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng về quyền và nghĩa vụ của Giám đốc công ty trong Hợp động lao đổng có quy định: “ Được quyền quyết định các vấn đề liên quan đến tài chính, ký kết các Hợp đồng giao dịch với giá trị tương ứng không quá 01( một) tỷ đồng. Trong trường hợp trên 01( một) tỷ đồng, phải báo bằng văn bản trình chủ tịch Công ty cho ý kiến xử lý” ( bút lục 49). Nhưng bà K ký hợp đồng với Hợp tác xã Đ3, giá trị tương ứng của Hợp đồng vượt quá con số 01 ( một ) tỷ đồng. Đồng thời bà K cũng không thực hiện đúng theo Thông báo kết luận của Ban thường vụ tỉnh Đoàn về các nội dung của Công ty TNHH Một Thành Viên T3 số 176/ TB/VP ngày 23/02/2021, nội dung Thông báo thể hiện bà K có quyền ký hợp đồng liên kết diện tích tối đa là 250 ha, thời gian là 20 năm. Nhưng ngày 09/3/2021, bà K ký kết hợp đồng với Hợp tác xã Đ3 vượt quá chủ trương cho phép của Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn diện tích đất liên kết thực hiện dự án từ 250 ha đến 300 ha, thời gian liên kết từ 20 năm trở lên. Nội dung ký hợp đồng bà K ký kết với Hợp tác xã Đ3, không tuân thủ nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Công ty đã không có lợi ích hoặc lợi nhuận khi thực hiện hợp đồng này. Bà K tự ý thực hiện một số dự án khi chưa có chủ trương của Ban thường vụ Tỉnh Đoàn như dự án trồng bơ, đinh lăng.
Bà K không đồng ý với Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCTK của tỉnh T2 nên bà làm đơn khiếu nại gửi đến Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Tây Ninh. Ngày 19/12/2022, Sở Lao động , thương binh và xã hội tỉnh T ban hành Quyết định số 163 V/V giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị Mỹ K, tại phần Quyết định: Điều 1 Yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn xem xét thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 6 của Bộ luật lao động năm 2019, cụ thể là thực hiện Điều 6 của Hợp đồng lao động đã ký ngày 31/7/2020, với bà K”. Tuy nhiên theo quy định của bộ luật Lao động thì đây không phải là điều kiện bắt buộc người sử dụng lao động phải ký lại hợp đồng với người lao động, khi hết hạn hợp đồng thì người sử dụng lao động có quyền chấm dứt và đảm bảo thông báo cho người lao động biết.
Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn đã tiến hành thanh tra các hoạt động của Công ty TNHH MTV T3 trong giai đoạn bà K làm Giám đốc, Báo cáo tài chính đã được kiểm toán thể hiện tình hình sản xuất kinh doanh của năm tài chính năm 2021s, cho thấy kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty lỗ 5.579.512.687 đồng, không phải lãi 1.925.925.179 đồng như bà K báo cáo (bút lục 116, 117). Do một số chi phí khấu hao tài sản cố định như: Vườn xoài, mít, hệ thống tưới mì hệ thống năng lượn mặt trời, đường trục BC, máy cắt cỏ không được đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh năm 2021 và chi phí thanh lý 138 ha cao su bà K đã không đưa vào hoạch toán theo đúng quy định.
Căn cứ vào kết quả Thanh tra, Tỉnh Đoàn Tây Ninh ban hành Quyết định số 48-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 15/2/2023, Quyết định số 54-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 16/3/2023, huỷ kết quả đánh giá, xếp loại hoàn thành nhiệm vụ năm 2021 và đã đánh giá xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” và huỷ danh hiệu “Lao động tiên tiến” năm 2021, đối với cá nhân bà Trần Thị Mỹ K.
Xét thấy Hợp đồng lao động giữa bà K và Tỉnh Đ1 thuộc loại Hợp đồng có xác định thời hạn 02 năm. Do đó khi người sử dụng lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì phải báo trước cho người lao động ít nhất 30 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 45 Bộ luật Lao động năm 2019, xét thông báo số 506/Thông báo/TĐTN-TCKT ngày 15/6/2022 của Tỉnh Đ1 về việc không tiếp tục tái ký hợp đồng với bà K đã tống đạt cho bà K ngày 17/6/2022, là đúng thời hạn. Tỉnh đoàn T2 không tiếp tục tái ký hợp đồng lao động đối với bà K là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 45 của Bộ luật Lao động. Bà K yêu cầu hủy thông báo số 506/Thông báo/TĐTN- TCKT ngày 15/6/2023 và Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 29/7/2022 của Ban thường vụ tỉnh Đoàn và yêu cầu tiếp tục gia hạn hợp đồng lao động ký ngày 31/7/2020, là không có căn cứ.
. Đối với yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại sau khi không tiếp tục tái ký hợp đồng lao động với bà K. Thì thấy việc Tỉnh Đoàn Tây N không tiếp tục tái ký hợp đồng lao động với bà K là đúng theo quy trình của Bộ luật lao động, không vi phạm thời hạn báo trước, không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Thông báo số 506/Thông báo/TĐTN- TCKT ngày 15/6/2023 và Quyết định số 685-QĐ/TĐTN-TCKT ngày 29/7/2022 của Ban thường vụ tỉnh Đoàn ban hành đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, nên yêu cầu bồi thường thiệt hại mà bà K đưa ra là không có căn cứ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ K là có căn cứ. Bà K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ K. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số: 01/2023/LĐ- ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T.
Về án phí Lao động phúc thẩm: Bà Trần Thị Mỹ K được miễn án phí lao động phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 45 Bộ luật Lao động năm
2019;
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ K.
2. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số: 01/2023/LĐ-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ K về việc yêu cầu Hủy Thông báo số 506/TB/TĐTN-TCKT, ngày 15/6/2023, về việc không tiếp tục tái ký hợp đồng lao động và Quyết định số 685-QĐ/TĐTN – TCKT, ngày 29/7/2022, về việc kết thúc hợp đồng đối với giám đốc Công ty TNHH T3 của Ban thường vụ Tỉnh Đoàn và yêu cầu bồi thường thiệt hại .
4. Về án phí lao động phúc thẩm: Bà Trần Thị Mỹ K được miễn án phí.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND TPTN; - Chi cục THADS TP TN; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Hồng Vân |