vanban.org

Bản án 01/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam đối với Công ty TNHH TR . Buộc Công ty TNHH TR phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam số tiền nợ là 163.369.815 đồng, thời gian thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "MUA BÁN TÀI SA SP - T R"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/KDTM-ST
Ngày: 13-3-2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông NguyễnVăn Trương;

2. Ông Lê Thanh Nghị;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;

Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã GC xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2022/TLST-KDTM ngày 25 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/2023/QĐXX-ST ngày 13/02/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-KDTM ngày 27/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam;

Địa chỉ: Cao ốc Sheraton, số 88 đường Đồng Khởi, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Jahanzeb Qayum Khan – Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Anh Đào Đình Ch, sinh năm: 1975;

Chị Huỳnh Thị Bích Ph, sinh năm: 1997;

Cùng địa chỉ liên hệ: 28/8 Lữ Gia, phường 15, Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh; (xin vắng mặt)

(Theo văn bản ủy quyền ngày 30 tháng 8 năm 2022)

2. Bị đơn: Công ty TNHH TR;

Địa chỉ: ấp HP, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn R - Giám đốc; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/9/2019 nguyên đơn Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam (gọi tắt là Công ty SPVB) và công ty TNHH TR (gọi tắt là Công ty TR) có ký kết hợp đồng Đại lý phân phối sản phẩm số LDMS.1412019.0030 và các phụ lục đính kèm.

Theo Hợp đồng đại lý, Công ty TR sẽ là nhà phân phối các sản phẩm nước giải khát của nguyên đơn. Nguyên đơn bán hàng cho công ty theo hình thức mua trả chậm và cho mượn vỏ két, pallet…(bao bì). Hạn mức trả chậm, thời hạn trả chậm tuỳ vào hiệu quả kinh doanh của công ty TR phù hợp với chính sách bán hàng trả chậm của nguyên đơn và được nguyên đơn thông báo cho từng nhà phân phối trong từng thời kỳ. Việc hoàn trả vỏ két cũng được áp dụng theo chính sách tương ứng của nguyên đơn.

Trong trường hợp hợp đồng đại lý chấm dứt, bên mua hàng phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ tiền hàng theo chính sách mua hàng trả chậm và hoàn trả bao bì mượn ngay khi hợp đồng chấm dứt.

Hợp đồng đại lý được chấm dứt từ ngày 10/9/2021 do công ty TR vi phạm hợp đồng. Do đó, công ty TR phải hoàn thành chấm dứt mọi nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Tạm tính đến ngày 06/3/2023 công ty TR còn phải thanh toán cho nguyên đơn là 163.369.815 đồng (trong đó: nợ tiền hàng là 98.522.815 đồng; Vỏ chai: 83.160.000 đồng; Két nhựa: 32.872.000 đồng; Pallet: 23.700.000 đồng. Trừ tiền ký quỹ là 74.885.000 đồng). Yêu cầu thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

* Trong suốt quá trình tố tụng bị đơn vắng mặt không trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Công ty TNHH TR có trụ sở tại xã LH, thị xã GC nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào Điều 24 Luật Thương mại nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

. Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH TR vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

. Xét yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam yêu cầu Công ty TR trả lại 163.369.815 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy giao dịch mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Namvà Công ty TR là có thật, thể hiện vào các hợp đồng Đại lý phân phối sản phẩm số LDMS.1412019.0030 được ký kết giữa Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam (Bên A) do bà Nguyễn Như Ngọc– chức vụ giám đốc Phát triển Hệ thống phân phối và thực thi Kinh doanh và Công ty TR (Bên B) do ông Phạm Văn R – chức vụ giám đốc Công ty làm đại diện theo pháp luật. Trong hợp đồng trên Công ty TR sẽ là nhà phân phối các sản phẩm nước giải khát của nguyên đơn. Nguyên đơn bán hàng cho công ty theo hình thức mua trả chậm và cho mượn vỏ két, pallet…(bao bì). Hạn mức trả chậm, thời hạn trả chậm tuỳ vào hiệu quả kinh doanh của công ty TR phù hợp với chính sách bán hàng trả chậm của nguyên đơn và được nguyên đơn thông báo cho từng nhà phân phối trong từng thời kỳ. Việc hoàn trả vỏ két cũng được áp dụng theo chính sách tương ứng của nguyên đơn.

Trong trường hợp hợp đồng đại lý chấm dứt, bên mua hàng phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ tiền hàng theo chính sách mua hàng trả chậm và hoàn trả bao bì mượn ngay khi hợp đồng chấm dứt. Tổng cộng Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam đã bán cho Công ty TR các sản phẩm nước giải khát gồm: Pepsi, 7Up, Mirinda, Evervess, AQUAFINA, STING, Twister, lipton, tea plus, My café, Mountain Dew với số tiền 1.247.098.093 đồng, thể hiện vào thư xác định công nợ khách hàng có xác nhận của bên bị đơn. Tại bản xác nhận công nợ ngày ngày 01/7/2021 Công ty TR đại diện là ông Phạm Văn Rỏ chức vụ giám đốc Công ty đã xác nhận số nợ trên. Kể từ ngày xác nhận công nợ Công ty TR có thanh toán thêm được cho Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam 1.083.728.278 đồng, còn nợ lại đến ngày 06/3/2023 là 163.369.815 đồng (trong đó: nợ tiền hàng là 98.522.815 đồng; Vỏ chai: 83.160.000 đồng; Két nhựa: 32.872.000 đồng; Pallet: 23.700.000 đồng, trừ tiền ký quỹ là 74.885.000 đồng). Tại Mục 3, tiểu mục 3.3 của Hợp đồng Đại lý phân phối sản phẩm có quy định về hình thức thanh toán như sau: Khi đã nhận Sản phẩm do Bên A giao, bên B có trách nhiệm thanh toán cho bên A giá trị số sản phẩm đó và không được trả lại sản phẩm đã nhận khi không có sự đồng ý của bên A. Trong quá trình giao dịch Bên A đã cung cấp hàng hóa đúng theo quy định tại Mục 4 của Hợp đồng là đúng chủng loại, số lượng theo đơn đặt hàng. Do đó có cơ sở xác định Công ty TR là bên có lỗi do vi phạm nghĩa vụ và thời hạn thanh toán được quy định tại các Điều 50, 55 Luật Thương mại.

Bị đơn Công ty TR đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nhưng bị đơn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản đối gì đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tài liệu, tình tiết, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Như vậy Công ty TR đã thừa nhận còn nợ và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam. Việc cố tình vắng mặt là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết nguyên đơn không có yêu cầu tính lãi suất nên không xem xét.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của Công ty TNHH nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam là có cơ sở, phù hợp pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Công ty TR phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về quyền kháng cáo của đương sự: Được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 24, 50, 55 Luật Thương mại;

- Các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam đối với Công ty TNHH TR .

Buộc Công ty TNHH TR phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam số tiền nợ là 163.369.815 đồng, thời gian thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu phần tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí:

Buộc Công ty TNHH TR phải chịu 8.168.490 đồng tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn lại Công ty TNHH nước giải khát SP Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.899.245 đồng theo biên lai thu tiền số 0007092 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ