vanban.org

Bản án 01/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” đối với Công ty TNHH X. Buộc Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 22.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 11,9%/năm tương ứng với thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "VLXD"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” đối với Công ty TNHH X. Buộc Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 22.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/KDTM-ST.
Ngày: 20 - 4 - 2023.
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hòa”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.

2. Ông Phan Văn Trường.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2022/TLST-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 16/2023/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Địa chỉ: 138 N , khu phố 1, phường T , thành phố B , tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Uyên Nh , sinh năm 1976.

Địa chỉ: 77/31/15, khu phố 3, phường T , thành phố B , tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Công ty TNHH X.

Địa chỉ: Số 592/46, tổ 4, ấp 5, xã A , huyện L , tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật của công ty:

+ Bà Châu Thị L , sinh năm 1987 – Chức vụ: Giám đốc điều hành.

+ Ông Lê Hữu Ngh , sinh năm 1988 – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

(Ông Nh có mặt; Công ty TNHH X vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án ông Tr n Uyên Nh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 07 tháng 3 năm 2019 Công ty TNHH X có ký đơn đặt hàng yêu cầu cung cấp bê tông trộn sẵn với Xí Nghiệp bê tông Đồng Nai thuộc Công ty Cổ phần Đ.

Tổng khối lượng đã ký kết đơn đặt hàng kinh tế là: 20m3, giá trị đã ký kết là: 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

Theo điều khoản thanh toán đã thỏa thuận giữa hai bên trong đơn đặt hàng ký ngày 07/3/2019, thì Công ty TNHH X phải thanh toán cho Xí nghiệp Bê tông Đồng Nai thuộc Công ty Cổ phần Đ 100% giá trị tiền hàng trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận bê tông.

Vậy tính đến hết ngày 16/5/2022 Công ty TNHH X còn nợ Xí nghiệp bê tông Đ thuộc Công ty Cổ phần Đ là: 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).

Đề nghị quý Tòa xem xét và giải quyết buộc Công ty TNHH X thanh toán cho Công ty cổ phần Đ số tiền: 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).

- Bị đơn Công ty TNHH X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng.

Về việc giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 22.400.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Công ty cổ phần Đ khởi kiện Công ty TNHH X về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa hai công ty có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có trụ sở tại huyện Long Thành, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định Công ty cổ phần Đ là nguyên đơn, Công ty TNHH X là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH X đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt Công ty.

Về nội dung: Căn cứ Đơn đặt hàng yêu cầu cung cấp bê tông trộn sẵn ngày 07 tháng 3 năm 2019 giữa Công ty TNHH X với Xí Nghiệp bê tông Đồng Nai thuộc Công ty Đ, tổng khối lượng theo đơn đặt hàng là: 20m3, giá trị: 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0001627 ngày 20/3/2019 và số 0001636 ngày 21/3/2019. Hai bên thỏa thuận Công ty TNHH X phải thanh toán cho Xí nghiệp Bê tông Đồng Nai thuộc Công ty Cổ phần Đ 100% giá trị tiền hàng trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận bê tông. Mặc dù Công ty TNHH X đã nhận được hàng và đã ký biên bản xác nhận công nợ ngày 31/3/2021 nhưng không thanh toán toàn bộ số tiền trên cho Công ty Cổ phần Đ là đã vi phạm thỏa thuận, gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ nên yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ được chấp nhận nên Công ty không phải chịu, trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho công ty. Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh thương mại là 3.000.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 24, 50, 55, 306 Luật thương mại năm 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” đối với Công ty TNHH X. Buộc Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 22.400.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 11,9%/năm tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ không phải chịu, trả lại cho công ty số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 đồng theo biên lai thu số 0006489 ngày 14/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Công ty TNHH X phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Về quyền kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ