vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 27 (Hai bảy) tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng cát-tông màu vàng, kích thước (35 x 25 x 24) cm, trên bề mặt có nhiều chữ viết thể hiện là thùng đựng bột giặt OMO, bên trong có 09 khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, được bọc bằng giấy có nhiều chữ viết nước ngoài và các hoa văn hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần thanh tình - Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 27 (Hai bảy) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình xử; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01 /2023/HSST
Ngày 11/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Soa, ông Phạm Duy Ất.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại nhà văn hóa tổ dân phố 5, phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2022/TLST- HS, ngày 26/12/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 9 năm 1979, tại: Thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khối 9, phường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông Trần Anh Đ và bà Nguyễn Thị B; Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Có vợ Trần Thị T và 02 con (đứa lớn sinh năm 2007, đứa nhỏ sinh năm 2014); Tiền sự: Không. Tiền án: Có 03 tiền án:

Tại bản án số 83/2010/HSST ngày 30/3/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thanh T 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm (bị cáo kháng cáo). Ngày 16/8/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 27/2010/HSPT-QĐ đối với Trần Thanh T, phạm tội “Trộm cắp tài sản” giữ nguyên án sơ thẩm.

Tại bản án số 429/2010/HSST ngày 29/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thanh T 33 tháng tù về tội “Làm giả con giấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng. Tổng hợp hình phạt 04 tháng tù tại bản án số 83/2010/HSST ngày 30/3/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (bị cáo kháng cáo). Quyết định đình chỉ phúc thẩm ngày 16/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữ nguyên án sơ thẩm, buộc bị cáo chấp hành chung cả hai bản án là 37 tháng tù. Ngày 30/8/2012, Trần Thanh T đã chấp hành xong bản án (Hiện chưa được xóa án tích).

Tại bản án số 454/2014/HSST ngày 08/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xác định tái phạm nguy hiểm và xử phạt Trần Thành T 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo kháng cáo). Bản án số 73/2015/HSPT ngày 22/5/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữ nguyên án sơ thẩm. Ngày 27/12/2021, Trần Thanh T đã chấp hành xong bản án (Hiện chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Có 02 nhân thân:

Ngày 11/5/1999, Trần Thanh T chấp hành tại Cơ sở giáo dục tại trại giam Xuân Hà 24 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Quyết định số 2305/QĐ ngày 27/6/1998 của UBND tỉnh Nghệ An. Đến ngày 11/02/2001 đã chấp hành xong quyết định. (Được coi là đã xóa tiền sự).

Tại bản án số 121/HSST ngày 16/4/2003 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thành T 27 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự và phải nộp 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo kháng cáo). Tại Bản án số 59/HSPT ngày 30/6/2003 của TAND tỉnh Nghệ An giữ nguyên án sơ thẩm. Ngày 12/3/2005, Trần Thanh T chấp hành xong bản án (Được coi là đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 tại trại tạm giam Công an Hà Tĩnh cho đến nay; Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH Thương mại Văn Minh; Địa chỉ: Số 37, đường Lê Văn Hưu, phường Trường Thi, thành phố Vinh, Nghệ an. Người đại diện theo pháp luật cho công ty: Anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khối 17, phường T, thành phố Vinh, Nghệ an. Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Trịnh Xuân T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nhân viên lái xe; Vắng mặt.

- Anh Phạm Anh T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khối 8, phường L, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Vắng mặt.

- Chị Bùi Thị Vượng H, sinh năm1992; Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, phường Đ, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng của hàng Mobifone thị xã Hồng Lĩnh; Vắng mặt

* Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Kiều H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số nhà 04, đường S, tổ dân phố 10, phường B, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

- Chị Trần Thị T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số nhà 18, ngõ 02, đường B, khối 9, phường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 8 năm 2022, quá trình làm việc tại huyện Nam Đ tỉnh Nghệ An, Trần Thanh T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 10 hộp pháo với giá 500.000 đồng/01 hộp, được để sẵn trong một thùng cát-tông màu vàng. Sau khi mua được số pháo trên, T không kiểm tra cụ thể bên trong có bao nhiêu hộp pháo mà để nguyên trong thùng rồi đưa về nhà mình ở khối 9, phường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cất giấu để sử dụng vào dịp tết Nguyên đán sắp tới. Đến ngày 30/11/2022, có một người đàn ông mà T khai tên là N (là bạn quen trước đây) ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng số điện thoại 0763.112.134 gọi đến số điện thoại 0976.853.801 của T nói: Cần một ít pháo nổ để sử dụng và làm quà cho bạn bè trong dịp lễ Noel và Tết sắp tới. Tình trả lời: Có pháo đây sẽ đưa vào cho bạn. Khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 01/12/2022, Trần Thanh T sử dụng điện thoại Iphone 6S, gắn thẻ sim số 0976.853.801 gọi điện cho người đàn ông tên N hẹn đưa pháo vào cho N tại khách sạn Việt Thái, thị xã Hồng Lĩnh. Sau đó, Tình mang theo thùng cát-tông bên trong đựng pháo đã mua trước đó đi bộ ra trước khu vực Trường Đại học Vinh, rồi gọi cho Phạm Anh T (sinh năm 1982, trú tại khối 8, phường L, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) nhờ chở đi vào thị xã Hồng Lĩnh. Tuấn đồng ý, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37M3-5191 đến gặp T, thấy có thùng cát-tông bên cạnh nên hỏi: Thùng đựng gì đây. T trả lời: Thùng đựng hoa quả đưa vào cho bạn ở thị xã Hồng Lĩnh. Sau đó, Tuấn chở T cùng thùng cát-tông đi vào thị xã Hồng Lĩnh. Trên đường đi, xe Tuấn điều khiển bị cháy đèn chiếu sáng nên đưa xe vào gửi tại cửa hàng xăng dầu cạnh đường Quốc lộ 1A thuộc xã X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, còn T gọi điện cho hãng Taxi 37 chở đi. Khoảng 15 phút sau, xe ô tô Taxi biển kiểm soát 37A-357.02 do anh Trịnh Xuân T (sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố 4, thị trấn X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đến chở T và T cùng với thùng cát tông chứa pháo đi vào thị xã Hồng Lĩnh. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến cổng khách sạn Việt Thái thuộc tổ dân phố 10, phường B, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Tình nói với T và anh T ngồi ở xe Taxi chờ, còn T bê thùng cát-tông chứa pháo đi ra phía sau khuôn viên khách sạn Việt Thái để gặp Ngọc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh kiểm tra, phát hiện bên trong thùng cát-tông màu vàng có 09 khối hộp hình vuông, bên ngoài có nhiều hoa văn nghi là pháo. Trần Thanh T thừa nhận 09 khối hộp trên là pháo hoa do T mua trước đó nhằm mục đích đưa về sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong các tang vật liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 1077/KL-KTHS ngày 03/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: 09 khối hộp, ngoài bọc giấy có nhiều màu sắc, hoa văn và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14 x 14 x 10) cm, trong mỗi khối hộp có các vật hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 10,5 kg.

- Về vật chứng vụ án:

- 01 thùng cát-tông màu vàng, kích thước (35 x 25 x 24) cm, trên bề mặt có nhiều chữ viết thể hiện là thùng đựng bột giặt OMO; 09 khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, được bọc bằng giấy có nhiều chữ viết nước ngoài và các hoa văn hình pháo hoa nổ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu ghi, số Imei: 358564072363420, bên trong gắn thẻ sim số điện thoại 0976.853.801, đã qua sử dụng (đều thu giữ từ Trần Thanh T ). Vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh.

- 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại Morning, sơn màu vàng, biển kiểm soát 37A-375.02, số máy: G4LAHP008488, số khung: 51M5HC107818, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 061134 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An cấp ngày 26/4/2017 (thu giữ từ Trịnh Xuân T ) là tài sản của Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh (địa chỉ số 37C, đường Lê Văn Hưu, phường Trường Thi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) được giao cho anh Trịnh Xuân T điều khiển, quản lý hàng ngày . Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu.

- Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh và anh Trịnh Xuân Th sau khi nhận lại xe ô tô biển kiểm soát 37A-375.02, giấy đăng ký xe nên không có yêu cầu gì về phần dân sự.

* Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-HS, ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh đã truy tố Trần Thanh T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm l khoản 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “tàng trữ hàng cấm”.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh và anh Trịnh Xuân T đã nhận lại tài sản, giấy đăng ký xe, nay không có yêu cầu gì về phần dân sự đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đại diện Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh và anh Trịnh Xuân T đã nhận lại tài sản, Giấy đăng ký xe ô tô nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

+ Các vật chứng khác đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng cát-tông màu vàng, kích thước (35 x 25 x 24) cm, trên bề mặt có nhiều chữ viết thể hiện là thùng đựng bột giặt OMO, bên trong có 09 khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, được bọc bằng giấy có nhiều chữ viết nước ngoài và các hoa văn hình pháo hoa nổ; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu ghi, số Imei: 358564072363420, bên trong gắn thẻ sim số điện thoại 0976.853.801, đã qua sử dụng.

- Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến gì tranh luận, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an thị xã Hồng Lĩnh, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định hành vi Trần Thanh T mua 10,5 kg pháo nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong quản lý hàng cấm. Pháo nổ là mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm, nó không chỉ gây nguy hiểm cao độ đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo biết việc tàng trữ pháo là pháp luật nghiêm cấm, thế nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo bất chấp pháp luật vẫn tàng trữ pháo. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Bị cáo đã có 3 tiền án về các tội: “Tội trộm cắp tài sản”, “Tội làm giả con giấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, “ Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”; có nhân thân xấu (Bị xử lý hành chính “đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” về hành vi tàng trữ ma tuý, bị Toà án xét xử về “tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”) thế nhưng bị cáo không coi đó là những bài học kinh nghiệm cho bản thân mà nay tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.

Về tình tiết định khung tăng nặng: Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm (bản án số 454/2014, ngày 08/12/2014 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An) nay tiếp tục phạm tội mới nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Gia đình có công với cách mạng (Bố bị cáo là thương binh hạng 4/4, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Trung đoàn 83- Bộ Tư lệnh Hải quân tặng Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở năm 1977, đơn vị E12-D741cấp giấy chứng nhận thanh niên tích cực học tập và làm theo di chúc của Bác Hồ) quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm l khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án nghiêm nhằm cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này có Phạm Anh T, Trịnh Xuân T là những người chở T đi giao pháo, tuy nhiên T, T không biết hộp giấy T mang theo là Pháo nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người đàn ông tên N liên lạc qua số điện thoại 0763.112.134 để lấy Pháo ở T, quá trình xác mình điều tra thì số điện thoại trên đăng ký tên Bùi Thị Vượng H nhân viên bán hàng mobifone đã sử dụng thông tin cá nhân để bán sim điện thoại, không có thông tin gì về Ngọc nên không có cơ sở điều tra xử lý trách nhiệm hình sự. Đối với Bùi Thị Vượng H là nhân viên bán hàng mobifone đã sử dụng thông tin cá nhân để bán sim điện thoại 0763.112.134, nhưng không biết khách hàng là ai, không liên quan đến tội phạm nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh và anh Trịnh Xuân T sau khi nhận lại xe ô tô biển kiểm soát 37A-375.02 và giấy đăng ký xe, nay không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại Morning, sơn màu vàng, biển kiểm soát 37A-375.02, số máy: G4LAHP008488, số khung: 51M5HC107818, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 061134 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An cấp ngày 26/4/2017 (thu giữ từ Trịnh Xuân T ) là tài sản của Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Văn Minh được giao cho anh Trịnh Xuân T điều khiển, quản lý hàng ngày. Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

+ Về các vật chứng khác Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình xử: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng cát-tông màu vàng, kích thước (35 x 25 x 24) cm, trên bề mặt có nhiều chữ viết thể hiện là thùng đựng bột giặt OMO, bên trong có 09 khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, được bọc bằng giấy có nhiều chữ viết nước ngoài và các hoa văn hình pháo hoa nổ. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu ghi, bên trong gắn thẻ sim số điện thoại 0976.853.801, đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Thanh T)

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm l khoản 2 điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 27 (Hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01/12/2022).

- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng cát-tông màu vàng, kích thước (35 x 25 x 24) cm, trên bề mặt có nhiều chữ viết thể hiện là thùng đựng bột giặt OMO, bên trong có 09 khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 10) cm, được bọc bằng giấy có nhiều chữ viết nước ngoài và các hoa văn hình pháo hoa nổ. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu ghi, số Imei: 358564072363420, bên trong gắn thẻ sim số điện thoại 0976.853.801, đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Thanh T). Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2022.

- Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc ngày niêm yết bản án chính.

Cỡ chữ