vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo

Nguyễn Văn T1 và Huỳnh H; Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 01/2023/HSST Tuyên án 09/01/2023
Phúc thẩm Bản án 22/2023/HSPT-QĐ Tuyên án 12/04/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D+ các bị cáo khác - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HSST
Ngày: 09/01/2023

NHÂN DANH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

TỈNH KHÁNH HOÀ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh

Ông Đinh Văn Liêm

* Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Th y Ng - Thư ký Tò án nhân dân thành

2/ Ông Trần Tá phố C m R nh, tỉnh Khánh Hò .

* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên

Quỳnh – Thư ký Tò án nhân dân thành phố C m R nh.

toà: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát viên

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tò án nhân dân thành phố C m

gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ranh - tỉnh Khánh Hò , xét xử sơ thẩm công kh i vụ án hình sự thụ lý số: 152/2022/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đư vụ án r xét xử số: 127/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1991 tại thành phố C, tỉnh

Khánh Hòa; Giới tính: N m; Quốc tịch: Việt N m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hò ; Trình độ văn hó : 9/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông: Nguyễn Ngọc B và bà: Đỗ Thị M; có vợ và 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 20/4/2022 đến n y, có mặt tại phiên tò .

2. Họ và tên: Huỳnh H, sinh năm 1986 tại thành phố C, tỉnh Khánh Hò ;

Giới tính: N m; Quốc tịch: Việt N m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hó : 9/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông: Huỳnh Công D1 và bà: Thái Thị H1; Chư có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 21/4/2010, bị Toà án nhân dân thị xã C m R nh (n y là thành phố

C) xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2011.

Bị cáo bị áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày

20/4/2022 đến n y, có mặt tại phiên tò .

3. Họ và tên: Huỳnh T, sinh năm 1990 tại thành phố C, tỉnh Khánh Hò ;

Giới tính: N m; Quốc tịch: Việt N m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hó : 6/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông: Huỳnh Công D1 và bà: Thái Thị H1; Chư có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 20/4/2022 đến n y, có mặt tại phiên tò .

4. Họ và tên: Nguyễn Tấn P, sinh năm 1999 tại thành phố C, tỉnh Khánh

Hòa; Giới tính: N m; Quốc tịch: Việt N m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hó : 7/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông: Nguyễn Đức Q và bà: Nguyễn Thị M1; Có vợ và 02 người con (lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 20/4/2022 đến n y, có mặt tại phiên tò .

5. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987 tại thành phố C, tỉnh Khánh

Hòa; Giới tính: N m; Quốc tịch: Việt N m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hó : 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn B1 và bà: Võ Thị P1; có vợ đã ly hôn và 01 người con sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 25/12/2012, bị Toà án nhân dân thành phố C m R nh xử

phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/6/2013.

Bị cáo bị áp dụng biệp pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày

20/4/2022 đến n y, có mặt tại phiên tò .

* Người có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n: Đỗ Thị M, sinh năm: 1967; nơi

cư tr : Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hò . Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Trần Thị Ngọc H2, sinh năm: 1968; nơi cư tr : Tổ dân phố L, phường

C, thành phố C, tỉnh Khánh Hò . Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Minh D2, sinh năm: 1968; nơi cư tr : Thôn T, xã C, thành phố

C, tỉnh Khánh Hò . Vắng mặt tại phiên tò .

3. Trần Thị Phương D3, sinh năm: 1996; nơi cư tr : Tổ dân phố L,

phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hò . Có mặt tại phiên tò .

4. Trần Ngọc P2, sinh năm: 1998; nơi cư tr : Tổ dân phố L, phường C,

thành phố C, tỉnh Khánh Hò . Vắng mặt tại phiên tò .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tò , nội dung

vụ án được tóm tắt như s u:

Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Ngọc D có mâu thuẫn với nh u về việc D kể

với người khác việc D đuổi đánh T1 bỏ chạy.

Vào tối ngày 17/12/2021, Nguyễn Ngọc D, H, Huỳnh H, Nguyễn Tấn P

đ ng ngồi nhậu tại nhà củ D ở tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa thì lúc này Nguyễn Văn T1 gọi điện thoại cho D thách thức đánh nh u và hẹn đến khu vực sân T ở Quốc lộ A thuộc phường B, thành phố C để giải quyết mâu thuẫn. D đồng ý và rủ T, H, P đi đánh nh u. Tất cả đồng ý.

S u đó, D cầm theo 01 ống tuýp sắt; H cầm theo 01 cậy rự ; T cầm theo

02 con dao; P không cầm theo hung khí đi đánh T1.

T1 cầm theo 1 khẩu s ng ngắn loại Rulo bên trong có 06 viên đạn và rủ

người tên T2 (chư rõ l i lịch) đi cùng.

Đến khoảng 22 giờ 30 ph t cùng ngày, khi nhóm D đi đến đầu đường bê

tông gi o nh u với Quốc lộ A thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C thì gặp T1 đ ng điều khiển xe môtô chở T2. L c này, thấy nhóm D nên T1 dừng xe ng y làn đường dành cho xe ô tô, sát làn đường dành cho xe ô tô, sát làn đường dành cho xe thô sơ trên Quốc lộ A làm cho các phương tiện đ ng lưu thông phải dừng lại và né tránh xe củ T1. S u đó, T1 xuống xe, dùng s ng bắn 02 phát vào người D nhưng không tr ng. Thấy vậy, D, T nhặt đá ném T1 nhưng không tr ng. Người tên T2 dùng d o định đâm D thì D dùng ống tuýp sắt đánh 01 cái tr ng vào vùng ngực nên T2 bỏ chạy về hướng Bưu điện thành phố C. T cầm d o đuổi theo nhưng không kịp nên qu y lại.

Khi D vừ đánh T2 thì T1 dùng s ng bắn 01 phát về phí D nhưng không

trúng. P thấy T1 dùng s ng bắn vì sợ bị tr ng đạn nên đứng ở đường bê tông. D dùng tuýp sắt đánh 02 cái tr ng t y và v i phải Th o. T1 tiếp tục dùng s ng bắn trúng vào vùng hông trái D. D dùng tuýp sắt đánh 01 cái tr ng vào v i phải củ T1 và l lớn “hết đạn rồi”. D giật s ng củ T1, còn T1 dùng t y giữ ống tuýp sắt củ D. Cùng l c đó, H dùng rự chém 03 nhát tr ng vùng đầu, gáy củ T1. Bị chém nên T1 buông ống tuýp củ D r rồi bỏ chạy về hướng giải phân cách cố định thì té ngã nằm giữ đường. T cầm 02 con d o đi đến định chém T1 nhưng T1 té ngã nên T dừng lại. T1 tiếp tục bỏ chạy về hướng giải phân cách cố định thì D cầm tuýp sắt, H cầm rự tiếp tục đuổi theo T1. D dùng ống tuýp sắt đánh 02 cái tr ng vào v i, lưng củ T1; P chạy r để đánh nhưng thấy D đánh T1 nên không đánh nữ ; H dùng rự chém T1 02 cái thì T1 đư t y lên đỡ nên rự chém T1 01 cái thì T1 đư t y lên đỡ nên tr ng bàn t y trái. T1 tiếp tục bỏ chạy thì D, H dừng lại.

Trong quá trình D, H, T, P đuổi đánh T1 từ lề đường đến giải phân cách

cố định làm cho nhiều phương tiện lưu thông trên đường phải dừng lại và né tránh, gây cản trở gi o thông.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 01 ngày 06/01/2022

củ Trung tâm Pháp y tỉnh K kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể củ Nguyễn Văn T1 là 09%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 02 ngày 06/01/2022

củ Trung tâm Pháp y tỉnh K kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể củ Nguyễn Ngọc D là 02%.

Tại Kết luận giám định số 46 ngày 26/01/2022 củ Phòng K Công n tỉnh

K kết luận:

- Khẩu s ng gửi giám định: là s ng tự chế, có tính năng, tác dụng tương

tự s ng công cụ hỗ trợ, không nằm trong d nh mục vũ khí quân dụng và không có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Tại thời điểm giám định, s ng có đủ các bộ phận cơ bản, lắp đ ng vị trí, bắn được loại đạn công cụ hỗ trợ cỡ (9x22)mm

- 02 (h i) viên đạn gửi giám định là đạn c o su công cụ hỗ trợ cỡ (09x22)

mm; không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, loại đạn này sử dụng được cho khẩu s ng gửi giám định, các loại s ng công cụ hỗ trợ như: Zor ki 914, RG88 và các loại s ng khác có cấu tạo cùng cỡ nòng phù hợp.

- 04 (bốn) vỏ đạn và 01 (một) đầu đạn c o su: là vỏ đạn và đầu đạn củ

loại đạn công cụ hỗ trợ cỡ (9x22) mm.

Ngày 16/3/2022, Nguyễn Văn T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày

04/4/2022 Nguyễn Ngọc D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Đến ngày 22/10/2022 Nguyễn Văn T1, Nguyễn Ngọc D r t đơn đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 92/CT-VKSCR-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022,

Viện kiểm sát nhân dân thành phố C m R nh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Ngọc D, Huỳnh H, Huỳnh T, Nguyễn Tấn P về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 củ Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tò , đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C m R nh giữ

quyền công tố tại phiên tò vẫn giữ nguyên qu n điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như s u:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 củ Bộ luật

hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 54 củ Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn P;

- Đề nghị xử phạt các bị cáo như s u:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn T1 và Huỳnh H : 02 năm

03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng

tù;

Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

Tại phiên tò , các bị cáo đều thừ nhận hành vi phạm tội và xin được xem

xét một mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án đã được tr nh tụng tại phiên tò , Hội đồng xét xử nhận định như s u: [1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tr truy tố xét xử; Cơ qu n điều tr , Điều tr viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tò đã tuân thủ và thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định củ Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tr và tại phiên tò , các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định củ cơ qu n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củ cơ qu n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Tại phiên tò vắng mặt người có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n và một số

người làm chứng nhưng việc vắng mặt củ họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt.

Trong hồ sơ và tại phiên tò , các bị cáo đã kh i nhận toàn bộ hành vi

phạm tội. Lời kh i nhận củ các bị cáo phù hợp với lời kh i củ bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 ph t ngày 17/12/2021, tại khu vực Quốc lộ A thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C; Nguyễn Văn T1, Nguyễn Ngọc D, Huỳnh H, Huỳnh T, Nguyễn Tấn P có hành vi cầm theo s ng, d o, ống tuýp sắt, rự đến tụ tập đuổi đánh nh u gây mất trật tự, làm cho nhiều phương tiện lưu thông trên đường phải dừng lại và né tránh gây cản trở gi o thông trên Quốc lộ A, ảnh hưởng xấu đến n ninh, trật tự, n toàn xã hội tại đị phương. Do đó, hành vi củ các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Ngọc D, Huỳnh H, Huỳnh T, Nguyễn Tấn P đã đủ cơ sở cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 củ Bộ luật Hình sự năm 2015. Quyết định truy tố củ Viện kiểm sát nhân dân thành phố C m R nh đối với các bị cáo là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Hành vi phạm tội củ các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng

nghiêm trọng đến trật tự n toàn xã hội, gây mất n ninh trật tự đị phương nên cần thiết phải xử lý về hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừ chung là phù hợp. Các bị cáo phạm tội m ng tính chất đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ củ hành vi cụ thể từng bị cáo thực hiện như s u:

Bị cáo Nguyễn Ngọc D: Bị cáo là người khởi xướng, chủ mưu tụ tập

lực lượng đi đánh bị cáo T1, bị cáo là người thực hành tích cực nhất, đánh bị cáo T1 bằng ống tuýt sắt gây nhiều thương tích. Hành vi có tính nguy hiểm c o hơn so với các bị cáo khác Huỳnh H, Huỳnh T, Nguyễn Tấn P.

Bị cáo Nguyễn Văn T1: Bị cáo là người thách thức, hẹn bị cáo D

đánh nh u, đồng thời bị cáo dùng s ng bắn 04 phát gây thương tích cho D và gây ồn ào, mất n toàn, cản trở gi o thông trên QL1A. Hành vi củ bị cáo có tính nguy hiểm ng ng bằng với bị cáo D.

Bị cáo Huỳnh H: S u khi được rủ rê thì bị cáo cũng th m gi với v i

trò người thực hành, dùng rự chém nhiều nhát vào người T1, gây mất n toàn, cản trở gi o thông trên Quốc lộ A nhưng với v i trò hạn chế hơn bị cáo T1 và D.

Bị cáo Huỳnh T: S u khi được rủ rê thì bị cáo cũng th m gi với v i

trò người thực hành, là người thực hành, dùng đá ném T1 (nhưng không tr ng), dùng d o định chém T1 nhưng do T1 té ngã nên dừng lại, nhưng hành vi củ bị cáo cũng đã gây mất n toàn, cản trở gi o thông trên Quốc lộ A với v i trò hạn chế hơn bị cáo H.

Bị cáo Nguyễn Tấn P: S u khi được rủ rê thì bị cáo cũng th m gi đi

đánh T1 nhưng bị cáo chỉ với v i trò người gi p sức về tinh thần, khi th m gi bị cáo thấy T1 đã bị các bị cáo khác đánh ngã xuống nên bị cáo không th m gi đánh T1. Do vậy, bị cáo th m gi vụ án với v i trò hạn chế nhất.

Ngoài r , cũng cần xem xét các bị cáo đã thành khẩn kh i báo, tỏ thái

độ ăn năn hối cải; nên có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 củ Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Huỳnh H đều có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Bị cáo Nguyễn Ngọc D và Huỳnh T chư có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có thể áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm củ hành vi phạm tội, nhân thân

củ các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gi n đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừ chung. Đối với bị cáo Huỳnh T có thể xem xét mức khởi điểm củ khung hình phạt. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn P có thể áp dụng Điều 54 củ Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất củ khung hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không xem xét.

Về vật chứng: 01 s ng ngắn loại Rulo bằng kim loại màu đen, mất ốp

báng s ng bên phải trong ổ đạn có 04 vỏ đạn và 02 viên đạn; 01 đầu đạn c o su; 01 mảnh nhự màu nâu có dòng chữ “WG”; 01 chiếc dép da màu nâu có dòng chữ “Huy hiệu”; 02 d o dạng bầu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 đĩ DVD, 01 USB chứ dữ liệu điện tử là những đoạn ghi hình lần lượt

tại khu vực Quốc lộ A tiếp tục lưu trữ vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo

Nguyễn Văn T1 và Huỳnh H;

- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51

củ Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh T và Nguyễn Ngọc D;

- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm i và s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 củ

Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn P;

- Điều 106, Điều 260 và 326 củ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 củ

Ủy b n Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tò án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Ngọc D, Huỳnh H,

Huỳnh T, Nguyễn Tấn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Xử phạt các bị cáo như s u:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 02 (h i) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn

phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 02 (h i) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn

phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh H 02 (h i) năm 03 (b ) tháng tù. Thời hạn phạt tù

được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh T 02 (h i) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính kể

từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn

phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

3. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng s u:

01 (một) s ng ngắn loại Rulo bằng kim loại màu đen, thân s ng có nhãn

hiệu WinGun-PATENT sản xuất tại Đài Lo n, có ký hiệu số 20TH4786, mất ốp báng s ng bên phải, trong ổ đạn có 04 vỏ đạn và 02 viên đạn; 01 đầu đạn c o su; 01 mảnh nhự màu nâu có dòng chữ “WG”; 01 chiếc dép d màu nâu có dòng chữ “Huy hiệu”; 02 d o dạng bầu (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 08/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố C và Chi cục Thi hành dân sự Thành phố C).

3. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm

nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩ vụ liên qu n vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ