- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 01/2023/HSST Ngày 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Minh Đón
Bà Ngô Thị Thanh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/01/2023, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Hà Văn L. Sinh ngày 28/10/1993. Hộ khẩu thường trú: bản Đ, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Chỗ ở: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ tên bố: Hà Văn H. Đã chết. Họ tên mẹ: Lò Thị T. Sinh năm 1959. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu. Vợ: Hoàng Thị T. Sinh năm 1988. (Đã ly hôn). Con: có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người bào chữa cho bị cáo L: Bà Lê Thị Thanh H – Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt
* Người làm chứng:
- Ông Ngô Văn K, sinh năm 1964. Vắng mặt Trú tại: thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Lưu Xuân Đ, sinh năm 1976. Vắng mặt Trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1991. Vắng mặt Trú tại: thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn L là đối tượng sử dụng ma túy từ lâu và đang là công nhân ở trọ tại thôn T, xã T, huyện Y. Khoảng 21 giờ 30 ngày 20/9/2022, L điều khiển xe mô tô đeo biển số 34K2-5698, mượn của anh Nguyễn Thành L sinh năm 1991, ở thôn C, xã V, huyện V (L làm thuê cho anh L) đi một mình từ khu công trường làm việc tại khu Công nghiệp Yên Mỹ II thuộc thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ đến khu vực vòng xuyến cầu Treo, xã Tân Lập để lấy ma túy do một đối tượng tên T đã đặt trước bảo L ra lấy về để cùng sử dụng. Khi đến nơi L gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, L không rõ tên, tuổi địa chỉ, người này đưa cho L gói ma túy và nói “này cầm về cho anh em”. L cầm ở tay và đi trên đường về đến thôn T, thị trấn Y, huyện Y thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ các vật chứng có liên quan.
Vật chứng thu giữ của L gồm: thu tại lòng bàn tay trái của L 01 túi tự chế bằng nilon màu vàng kích thước (7x5)cm, bên trong chứa 08 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly đều có kích thước (0,5x1,5)cm bên trong các gói giấy đều chứa chất dạng cục bột màu trắng, niêm phong ký hiệu M1; tại túi quần phía trước bên phải 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa mở vỏ bảo quản, niêm phong ký hiệu T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, bên trong có 01 sim, niêm phong ký hiệu ĐT1; tại túi quần phía trước bên trái số tiền 58.000đồng, niêm phong ký hiệu T2; 01 xe mô tô Login màu nâu dán nhãn hiệu Honda Dream, đeo biển số 34K2-5698.
Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn L. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 23/9/2022, Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên ra kết luận giám định số 357, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi kí hiệu M1, có khối lượng là 0,230g (không phẩy hai ba mươi gam) là ma túy, loại Heroine. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong phong bì ghi số 357/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,223g (không phẩy hai hai ba gam) ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh nilon màu vàng; 08 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Các mẫu hoàn lại được niêm phong giao cho Công an huyện Yên Mỹ- tỉnh Hưng Yên quản lý.
Đối với 0,223gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định là ma túy thu giữ là của L, mua về mục đích để sử dụng.
Đối với 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa mở vỏ bảo quản, niêm phong ký hiệu T1 là của L để sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen, bên trong có 01 sim, niêm phong ký hiệu ĐT1 và số tiền 58.000đồng, niêm phong ký hiệu T2 là của L không liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Yên Mỹ
Đối với 01 xe mô tô Login màu nâu ghi nhãn hiệu Honda Dream, đeo biển số 34K2-5698 do anh Nguyễn Thành L mua lại không có giấy tờ. Kết quả điều tra do chưa xác định được dữ liệu tra cứu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với đối tượng tên T theo L khai là người mua ma túy và bảo L đi đến lấy về để cả hai cùng sử dụng và người đàn ông bán ma túy cho L. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Quá trình điểu tra L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKS-YM ngày 27/12/2022 của Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ đã truy tố bị cáo Hà Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà có quan điểm xác định sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn L từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/09/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy: 0,223 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định, 08 mảnh giấy gói ma túy, 01 mảnh nilon màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 357/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa mở vỏ bảo quản.
Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, bên trong có 01 sim và số tiền 58.000đồng
- Bị cáo L đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có ý kiến đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người tham gia tố tụng khác và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo L là bà Lê Thị Thanh H có quan điểm: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt theo như truy tố của viện kiểm sát đối với bị cáo L. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại cáo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện VKSND huyện Yên Mỹ đều có đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Người làm chứng vắng mặt đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mă ̣t của ho ̣ không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lờ i khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/9/2022 tại thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Hà Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,230g (không phẩy hai ba mươi gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và để phòng ngừa tội phạm nói chung, các tội phạm liên quan đến tệ nạn ma túy nói riêng.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định và tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,223 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, 08 mảnh giấy gói ma túy, 01 mảnh nilon màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 357/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa mở vỏ bảo quản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, bên trong có 01 sim và số tiền 58.000đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo sẽ được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Hà Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/09/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy: 0,223 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định, 08 mảnh giấy gói ma túy, 01 mảnh nilon màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 357/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa mở vỏ bảo quản.
Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, bên trong có 01 sim và số tiền 58.000đồng
(Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục thi hành án huyện Yên Mỹ ngày 10/01/2023).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn L.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa, nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên - VKSND huyện Yên Mỹ. - Chi cục THA dân sự huyện Yên Mỹ. - Công an huyện Yên Mỹ. - Người TGTT. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |