- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo HUỲNH HỒNG S và HUỲNH VĂN K phạm tội “Trộm cắp Tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số:01/2023/HSST Ngày 03 tháng 01 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Nguyễn Phƣớc Lộc.
2/. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm Linh Giang.
- Thƣ ký phiên toà: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2022/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2022/QĐXXST- HS, ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: HUỲNH HỒNG S (tự S MB ), sinh ngày 25 tháng 9 năm 1999; Tại BS – QN ; Nơi thường trú: Tổ 1, KP 7, phường AT, thành phố PQ, tỉnh KG; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không ; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông: Huỳnh S và bà Trần Thị Thu T; Em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất 2009; Bị cáo chưa có vợ.
Tiền sự: chưa.
Tiền án: Ngày 11/5/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp Ta sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 26/01/2022, chấp hành xong bản án về hình phạt tù, chưa được xoá án tích.
Tạm giam: ngày 07/9/2022.
2. Họ và tên: HUỲNH VĂN K , sinh ngày 16 tháng 02 năm 2004; Tại PQ - KG ; Nơi thường trú: Ấp ĐB, xã DT, thành phố PQ, tỉnh KG ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 4/12; Con ông: Nguyễn Văn C và bà Huỳnh Thị L; Anh, em ruột có 03 người lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2011; Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Tạm giam: ngày 14/6/2022.
Tạm tha ngày 10/9/2022.
- Người bị hại: Anh Phạm Công V, sinh năm 1990; địa chỉ: Kp 4, phường AT, thành phố PQ, tỉnh KG, (có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T , sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp ĐB, xã DT, thành phố PQ, tỉnh KG , (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 08/6/2022, HUỲNH VĂN K đang ở nhà của K thuộc kp4, phường AT, thành phố PQ thì HUỲNH HỒNG S điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave (chưa rõ biển kiểm soát) của S chạy đến rủ K đi trộm cắp Tài sản, K đồng ý. Sau đó, S chở K đến Bãi Đất Đ lấy 01 xe kéo tự chế (xe do S mượn của anh Nguyễn Văn T trước đó để chở phế liệu). Đến khoảng 02 giờ đêm, ngày 09/6/2022, S chở K đến cơ sở quảng cáo VP , do anh Phạm Công V làm chủ, thuộc khu phố 4, phường AT, S dùng kìm cộng lực mang theo sẵn cắt ổ khóa, mở cửa đi vào cơ sở quảng cáo cùng K lấy trộm Tài sản của anh Phạm Công V , gồm: 01 máy hút bụi nhãn hiệu HICLEAN; 01 tivi nhãn hiệu Samsung 32 inch; 01 máy phát điện nhãn hiệu US GEN SET 2.500; 01 máy bơm hơi nhãn hiệu GIHU; 01 cái máy hàn nhãn hiệu SANDA; 01 máy hàn nhãn hiệu FUKA; 01 máy cắt bàn nhãn hiệu BOSS; 01 máy cắt cầm tay không rõ nhãn hiệu; 01 cây thang xếp bằng nhôm không rõ nhãn hiệu; 01 cái máy khoan tường nhãn hiệu Makita, màu bạc đen; 01 máy khoan tường hiệu Makita màu xanh đen; 01 cái máy khoan tường nhãn hiệu BOSCH; 01 cái máy khoan tường nhãn hiệu SENCAN; 01 máy khoan tường sử dụng pin, không rõ nhãn hiệu mang ra để trên thùng xe kéo. Riêng 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S S lấy để vào túi quần. Sau khi lấy trộm Tài sản, S điều khiển xe mô tô chạy chở K ngồi sau giữ xe kéo, chở Tài sản lấy trộm đến vựa mua phế liệu của ông Nguyễn Văn T , thuộc ấp ĐB, xã DT, thành phố PQ , S đi vào bán toàn bộ Tài sản lấy trộm để trên xe kéo, còn K điều khiển xe chạy đi canh đường, T không biết Tài sản do S trộm cắp mà có nên đồng ý mua với số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi bán Tài sản xong, S đi bộ đến chở K đi về, S chia cho K số tiền bán Tài sản lấy trộm được 1.700.000 đồng, S và K sử dụng tiêu xài cá nhân hết, còn điện thoại di động lấy trộm S đưa cho Ngô Chí Ta để sử dụng, Ta không biết điện thoại do S trộm cắp mà có, do không mở được mật khẩu nên Ta đưa lại điện thoại cho K để trả lại cho S . Sau đó K gọi cho anh V để xin mật khẩu điện thoại thì bị phát hiện, anh V đến Công an trình báo sự việc. Ngày 14/6/2022, K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, bị tạm giam. Đến ngày 07/9/2022, S bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Quốc có tạm giữ gồm:
- 01 máy hút bụi hiệu HICLEAN, màu vàng model: HC30, đã qua sử dụng;
- 01 tivi nhãn hiệu Samsung 32inch, mã sản phẩm UA32J4003AKXX, đã qua sử dụng;
- 01 máy khoan, nhãn hiệu Makita, màu bạc đen, model: HR164D, đã qua sử dụng;
- 01 máy khoan, nhãn hiệu Makita, màu xanh đen, đã qua sử dụng;
- 01 máy phát điện nhãn hiệu US GEN SET 2500, màu đỏ, đã qua sử dụng;
- 01 máy bơm hơi nhãn hiệu GIHU, màu xanh, model: GH OF24, đã qua sử dụng;
- 01 máy hàn nhãn hiệu FUKA, màu xanh, model: ARC-200, đã qua sử dụng;
- 01 máy hàn nhãn hiệu SANDA, màu xanh, model: MMA-200, đã qua sử dụng;
- 01 máy khoan tường, nhãn hiệu SENCAN, màu đỏ đen, đã qua sử dụng;
- 01 máy khoan tường, nhãn hiệu BOSCH, màu xanh đen, đã qua sử dụng;
- 01 máy khoan tường, sử dụng pin, không rõ nhãn hiệu, màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 máy cắt cầm tay, không rõ nhãn hiệu, màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6s plus, màu hồng, số seerri F2LRF95DGRX5, đã qua sử dụng.
Đối với cây kìm cộng lực do bị can HUỲNH HỒNG S sử dụng vào mục đích phạm tội, bị can S đã làm mất nên không xử lý.
Đối với xe mô tô không rõ biển kiểm soát, sau khi thực hiện hành vi, S đã bán cho người mua phế liệu không rõ nhân thân với số tiền 500.000 đồng, nên không thu giữ được.
Đối với chiếc xe kéo anh Nguyễn Văn T không biết việc cho bị can HUỲNH HỒNG S mượn đi thực hiện hành vi phạm tội, nên không xử lý.
Tại kết luận định giá Tài sản số: 54/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá Tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang kết luận:
- 01 tivi nhãn hiệu Samsung 32inch, mã sản phẩm UA32J4003AKXXV, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 1.233.333 đồng.
- 01 máy hàn nhãn hiệu SANDA, màu xanh, model: MMA-200, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 550.000 đồng.
- 01 máy hàn nhãn hiệu FUKA, màu xanh, model: ARC-200, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 550.000 đồng.
- 01 máy hút bụi hiệu HICLEAN, màu vàng model: HC30, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 1.166.667 đồng.
- 01 máy khoan, nhãn hiệu Makita, màu bạc đen, model: HR164D, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 333.000 đồng.
- 01 máy bơm hơi nhãn hiệu GIHU, màu xanh, model: GH OF, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 700.000 đồng.
- 01 máy phát điện nhãn hiệu US GEN SET 2500, màu đỏ, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 1.250.000 đồng;
- 01 máy khoan tường, nhãn hiệu SENCAN, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 333.000 đồng.
- 01 máy khoan tường, nhãn hiệu BOSCH, màu xanh đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 200.000 đồng.
- 01 máy khoan tường, sử dụng pin, không rõ nhãn hiệu, màu đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 166.667 đồng.
- 01 máy cắt cầm tay, không rõ nhãn hiệu, màu đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 166.667 đồng.
- 01 máy khoan, nhãn hiệu Makita, màu xanh đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 350.000 đồng.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6s plus, màu hồng, số seerri F2LRF95DGRX5, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 6/2022, trị giá: 1.800.000 đồng.
- 01 cây thang, loại thang xếp, bằng nhôm màu trắng, không rõ nhãn hiệu, model, không thu được Tài sản: Không có Tài sản, không rõ nhãn hiệu, model, đặc điểm Tài sản, do đó không xác định được giá trị Tài sản.
- 01 máy cắt bàn, nhãn hiệu BOSS màu xanh, không rõ thông tin đặc điểm Tài sản, không thu hồi được Tài sản: Không có Tài sản, không rõ thông tin, đặc điểm Tài sản, do đó không xác định được giá trị Tài sản.
Tổng cộng: 8.800.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 141/CT-VKSPQ ngày 28/11/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo HUỲNH HỒNG S và HUỲNH VĂN K về tội “Trộm cắp Tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại biên bản lấy lời khai của người bị hại anh Phạm Công V tại Cơ quan điều tra anh V xác nhận đã nhận lại toàn bộ số Tài sản bị trộm cắp và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng như về hình phạt (Bl 151). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Văn T có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Xét thấy, việc vắng mặt họ không gây cản trở cho việc xét xử, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội trộm cắp Tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; và Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo HUỲNH HỒNG S từ 01 năm 06 tháng đến 2 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo HUỲNH VĂN K từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Quốc đã trả toàn bộ vật chứng nêu trên cho chủ sở hữu là anh Phạm Công V đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Phạm Công V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo HUỲNH HỒNG S nộp lại số tiền bán xe mô tô 500.000 đồng và tiền thu lợi bất chính 3.300.000 đồng, tổng cộng là 3.800.000 đồng tịch thu sung công quỹ Nhà nước và buộc bị cáo HUỲNH VĂN K phải nộp số tiền thu lợi bất chính 1.700.000 đồng tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với Nguyễn Văn T mua Tài sản không biết là Tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo HUỲNH HỒNG S và bị cáo HUỲNH VĂN K không có ý kiến bào chữa thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Lời nói sau cùng của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, Căn cứ vào các Tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai hợp pháp, đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo HUỲNH HỒNG S và HUỲNH VĂN K đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/6/2022, S và K lén lút thực hiện hành vi dùng kìm cộng lực, cắt ổ khoá cửa vào cơ sở quảng cáo của anh V trộm cắp tổng giá trị Tài sản theo định giá là 8.800.000 đồng. Hành vi và hậu quả của bị cáo HUỲNH HỒNG S và HUỲNH VĂN K gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp Tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, làm mất an ninh trật tự ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về Tài sản của người khác. Các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không có sự phân công chặt chẽ với nhau nên thuộc trường hợp đồng phạm đơn giản, bị cáo S là người đề xuất, người thực hành và tìm cách tiêu thụ Tài sản trộm được nên phải chịu hình phạt cao hơn so với bị cáo K . Bị cáo K thống nhất ý chí với bị cáo S để thực hiện tội phạm với vai trò cảnh giác cho S thực hiện hành vi nên có mức hình phạt thấp hơn.
Mặt khác bị cáo S có nhân thân xấu có 01 tiền án về tội trộm cấp Tài sản đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xoá án tích mà còn tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, xét về tính chất mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo cần áp dụng hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo S theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo K có nhân thân tốt phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự cho bị cáo K theo điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Văn T mua Tài sản của các bị cáo nhưng không biết Tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, Viện kiểm sát không truy tố nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ Tài sản đã tạm giữ nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công An thành phố phú Quốc đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Phạm Công V là phù hợp nên không xét.
Đối với số tiền bán xe mô tô 500.000 đồng và tiền thu lợi bất chính 3.300.000 đồng tổng cộng 3.800.000 đồng của bị cáo HUỲNH HỒNG S và số tiền thu lợi bất chính 1.700.000 đồng của bị cáo HUỲNH VĂN K tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về bồi thường thiệt hại: Người bị hại anh Phạm Công V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xét.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo HUỲNH HỒNG S và HUỲNH VĂN K phạm tội “Trộm cắp Tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo HUỲNH HỒNG S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 07/9/2022.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo HUỲNH VĂN K 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án (nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến ngày 09/9/2022).
3. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ Tài sản đã tạm giữ nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công An thành phố Phú Quốc đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Phạm Công V theo biên bản về việc trả lại Tài sản, đồ vật, Tài liệu ngày 06/9/2022 (BL 101).
4. Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự buộc các bị cáo HUỲNH HỒNG S nộp lại số tiền bán xe mô tô 500.000 đồng và tiền thu lợi bất chính 3.300.000 đồng, tổng cộng là 3.800.000 đồng và buộc bị cáo HUỲNH VĂN K phải nộp số tiền thu lợi bất chính 1.700.000 đồng tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo HUỲNH HỒNG S và bị cáo HUỲNH VĂN K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSTP Phú Quốc; - THATP Phú Quốc; - Nhà TGTP Phú Quốc; - Lưu hồ sơ, văn phòng; - Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Văn Bình |