vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản”

2/- Áp d ng điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 13/4/2022. 3/- Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Kiệt phạm tội " Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 BLHS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2023/HSST
Ngày:17/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Tấn Phước

2/ Ông Liêu Tài Ngoánh

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu: Ông Danh Lê Minh Trí– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại tr s Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 46/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST –HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Văn K, sinh năm 1981, tại xã G, huyện P, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 2/12. Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D và bà Thạch Kim L; chưa vợ, con; tiền án: 03 lần, c thể:

+ Lần 01: Ngày 25/03/2008, bị Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố H xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “ Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt từ ngày 18/6/2010;

+ Lần 02: Ngày 12/03/2013, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt từ ngày 15/3/2014;

+ Lần 03: Ngày 05/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2018, bản án chưa được xóa án tích do bị cáo Võ Văn K chưa thi hành nộp số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước theo Bản án số 32/2016/HSST của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/04/2022 đến ngày 16/4/2022 chuyển tạm giam đến nay. (Bị cáo có m t).

- Bị hại: Chị Sơn Thị V, sinh năm 1983 (vắng m t)

Địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Lê Phương C, sinh năm 1998 (vắng m t)

Địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

+ Anh Thạch S, sinh năm 1983 (vắng m t)

Địa chỉ: Sân T, Phường D, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 13/04/2022, tại Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Võ Văn K đã có hành vi giật sợi dây chuyền vàng 17k, trọng lượng 4,5 chỉ, có giá trị thành tiền là 18.999.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) của chị Sơn Thị V thì bị bắt quả tang. Tuy nhiên, về nhân thân của bị cáo đã có 03 (ba) tiền án, trong đó, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2016/HSST ngày 05/07/2016 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết định khung tăng n ng “Tái phạm nguy hiểm”, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tiếp t c thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Vì vậy, tại Cáo trạng số 47/CT-VKS- HS ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Võ Văn K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:

- Áp d ng điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

- Về vật chứng: Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp lưỡi lam nhãn hiệu Bic, bên trong hộp có 02 (hai) lưỡi lam, tình trạng chưa qua sử d ng; 01 (một) nửa lưỡi lam bằng kim loại màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “Bic”, đã qua sử d ng; 01 (một) bóp da màu đen (loại bóp da của nam), bên ngoài bóp có dòng chữ “BOSS”, màu trắng bằng kim loại, tình trạng đã qua sử d ng.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng- đen- bạc, loại xe Wave, số máy JA39E0959008, số khung 3914KY102615, biển số 83P3-980.64, loại xe bánh câm, có gắn 01 (một) kính, xe có chìa khóa, tình trạng đã qua sử d ng.

Tại Tòa, bị cáo Võ Văn K khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo Võ Văn K nói lời sau cùng với Hội đồng xét xử là xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong quá trình tiến hành tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố t ng khác trong v án không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Võ Văn K trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận:

Khoảng 22 giờ, ngày 12/4/2022, Võ Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 83P3-980.64 ch một người thanh niên (chưa xác định nhân thân) từ thành phố B đến khu vực xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu tìm tài sản để lấy trộm.

Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 13/4/2022, khi đến nhà anh Trần T, sinh năm 1982, thuộc Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thì dừng lại, K đi vào m cửa sổ thì nhìn thấy chị Sơn Thị V (vợ anh T) đang ngủ có đeo sợi dây chuyền vàng 17k, trọng lượng 4,5 chỉ, nên K dùng lưỡi lam (đã chuẩn bị sẵn) rạch mùng tạo thành khoảng trống và cất lưỡi lam vào túi quần, K dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền của chị V rồi nhanh chóng chạy ra chỗ đậu xe lên xe bỏ chạy. Sau khi bị giật dây chuyền, chị V liền truy hô thì anh T cùng con trai là Trần Thanh T1 dùng xe mô tô truy đuổi theo K và đồng bọn. Khi chạy đến cầu Mương 1, thuộc ấp V, xã Vĩnh H, huyện D, tỉnh Bạc Liêu, K dừng lại bỏ sợi dây chuyền vào trong bóp rồi định tiếp t c điều khiển xe bỏ chạy thì bị anh T và anh T1 chạy đến ch n đầu xe và đạp ngã xe của K, anh T chạy đến khống chế bắt giữ K, còn anh T1 thì truy đuổi theo người ngồi sau xe K nhưng không kịp. Sau khi sự việc xảy ra, anh T trình báo đến Công an xã Vĩnh H, huyện D, tỉnh Bạc Liêu đến lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và thu giữ các tang vật có liên quan tại nơi bắt giữ K gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng- đen- bạc, loại Wave, biển số 83P3-980.64; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy On7, màu vàng đồng, dung lượng 08GB; 01 (một) cái bóp da màu đen, bên ngoài bóp có dòng chữ “BOSS”, màu trắng bằng kim loại, bên trong bóp có một sợi dây chuyền bị đứt, 13 miếng kim loại màu vàng, 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy (bản chính) mang tên Thạch S, biển số đăng ký 83P3-980.64, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Võ Văn K, 01(một) giấy chứng minh nhân dân (bản phô tô) mang tên Võ Văn K và một số giấy tờ khác có liên quan.

Tại kết luận định giá tài sản số 21 ngày 26/04/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền kiểu đuôi ph ng, loại vàng 17k, trọng lượng 4,5 chỉ, có giá trị thành tiền là 18.999.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Tại kết luận định giá tài sản số 29 ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy On7, màu vàng đồng, dung lượng 08GB có giá trị thành tiền là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu vàng tím, không rõ dung lượng nên không đủ cơ s định giá.

Xét lời khai nhận của bị cáo Võ Văn K tại tòa phù hợp với tất cả các lời khai khác của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 13/04/2022, tại Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Võ Văn K đã có hành vi giật sợi dây chuyền vàng 17k, trọng lượng 4,5 chỉ, có giá trị thành tiền là 18.999.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) của chị Sơn Thị V thì bị bắt quả tang. Tuy nhiên, về nhân thân của bị cáo đã có 03 (ba) tiền án, trong đó, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2016/HSST ngày 05/07/2016 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết định khung tăng n ng “Tái phạm nguy hiểm”.Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội (ngày 13/4/2022), bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp t c thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo Võ Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo Võ Văn K theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Võ Văn K khi thöïc hieän haønh vi phaïm toäi có ñaày đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo khoâng nhöõng xaâm haïi ñeán taøi saûn cuûa chuû sôû höõu maø coøn laøm maát an ninh traät töï taïi ñòa phöông noùi rieâng, cho toaøn xaõ hoäi noùi chung và hiện nay loại tội phạm này có chiều hướng ngày càng tăng, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần thiết phải áp d ng hình phạt cách ly bị cáo khỏi sinh hoạt xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo d c bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tr thành người công dân tốt có ích cho xã hội và cũng như ph c v cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – chị Sơn Thị V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Võ Văn K, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, đã giao trả lại cho chị Sơn Thị V 01 (một) sợi dây chuyền, kiểu đuôi ph ng, tình trạng bị đứt và 39 miếng vàng bị rơi ra, tất cả đều là loại vàng 17k, có tổng trọng lượng là 04 chỉ 02 phân 09 ly 02; trả lại cho chị Lê Phương C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy On7, màu vàng đồng, dung lượng 08GB; các tài sản không liên quan v án đã trả lại cho chủ s hữu (BL 65-66; 67-68, 69-70). Vì vậy, Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng- đen- bạc, loại xe Wave, số máy JA39E0959008, số khung 3914KY102615, biển số 83P3-980.64, loại xe bánh câm, có gắn 01 (một) kính, xe có chìa khóa, tình trạng đã qua sử d ng là của bị cáo Võ Văn K, bị cáo đã dùng chiếc xe máy trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) nửa lưỡi lam bằng kim loại màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “Bic”, đã qua sử d ng; 01 (một) bóp da màu đen (loại bóp da của nam), bên ngoài bóp có dòng chữ “BOSS”, màu trắng bằng kim loại, tình trạng đã qua sử d ng là của bị cáo Võ Văn K có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra, đối với 01 (một) hộp lưỡi lam nhãn hiệu Bic, bên trong hộp có 02 (hai) lưỡi lam, tình trạng chưa qua sử d ng là của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, tại tòa, bị cáo K không có yêu cầu nhận lại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, những đồ vật trên đã cũ, không còn giá trị sử d ng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy On7, màu vàng đồng, dung lượng 08GB là tài sản của chị Lê Phương C, sinh năm 1998, trú tại Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị mất trộm vào ngày 13/4/2022. Ngoài ra, chị C khai nhận còn bị mất 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu vàng tím, không rõ dung lượng. Do không chứng minh được bị cáo Võ Văn K là người lấy trộm, Viện kiểm sát không truy tố hành vi này, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Đối với người thanh niên đi chung xe với bị cáo Võ Văn K, do không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn K không thừa nhận, nên chưa đủ căn cứ xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Văn K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản”

2/- Áp d ng điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 13/4/2022.

3/- Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp lưỡi lam nhãn hiệu Bic, bên trong hộp có 02 (hai) lưỡi lam, tình trạng chưa qua sử d ng; 01 (một) nửa lưỡi lam bằng kim loại màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “Bic”, đã qua sử d ng; 01 (một) bóp da màu đen (loại bóp da của nam), bên ngoài bóp có dòng chữ “BOSS”, màu trắng bằng kim loại, tình trạng đã qua sử d ng.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng- đen- bạc, loại xe Wave, số máy JA39E0959008, số khung 3914KY102615, biển số 83P3-980.64, loại xe bánh câm, có gắn 01 (một) kính, xe có chìa khóa, tình trạng đã qua sử d ng.

(Vật chứng trên hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý- theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2022)

4/- Về án phí: Áp d ng Điều 135,136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng m t có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ