vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 13/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA B
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HSST
Ngày 13/10/2023

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA B, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Thảo – Giáo viên trung tâm giáo dục tHư xuyên Huyện Gia B.

Ông Hoàng Đăng Đán – Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc – thư ký TAND Hện Gia B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia B, tỉnh Bắc Ninh tham gia

phiên tòa: Bà Vũ Thị Hền – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở TAND Huyện Gia B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/TLST-HS ngày 03/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 03/10/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/01/2007.

NĐKHKTT: Thôn Khoái K, xã Nhân T, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1974.

Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975

Gia đình bị cáo có 03 chị em ruột. Bị cáo là con thứ ba.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Ông Nguyễn Văn M– sinh năm 1974 (ông Mạnh là bố đẻ bị cáo).

NĐKHKTT: Thôn Khoái K, xã Nhân T, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Nhật H – Trợ giúp viên pháp lý (Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh). Có mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Ngọc Hi, sinh năm 1974.

NĐKHKTT: Thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, Huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2023, tại địa phận thôn Ngăm Mạc, xã Lãng Ng, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã Lãng Ng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/01/2007 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng do Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay phải của H. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Ngày 20/9/2023, Cơ quan CSĐT – Công an Huyện Gia B ra quyết định trưng cầu giám định số: 121/QĐ-CQCSĐT, yêu cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất bột màu trắng và viên nén hình tròn màu hồng thu được của Nguyễn Văn H.

Tại Bản Kết luận giám định số: 1953/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

+ 01(một) viên nén hình tròn màu hồng gửi giám định có khối lượng: 0,0979 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;

+ Chất tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng: 0,1626 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các dA mục chất ma túy và tiền chất.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Khoảng 19 giờ 30 ngày 20/9/2023, Nguyễn Văn H cùng Hoàng Văn Hư, sinh năm: 2007 ở thôn Bíp, xã Quỳnh Phú, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh, đi đến nhà Nguyễn Đắc Hải A (tên gọi khác: H), sinh năm: 1997, HKTT: thôn Ngăm Mạc, xã Lãng Ng, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh, có việc cá nhân. Đến nơi, H thấy Hải A và một đối tượng tên Nam (H không rõ tên tuổi đầy đủ) đang sử dụng ma túy. Tại đó, H, Hư có sử dụng ma túy cùng Hải A, và Nam. Sau khi sử dụng hết ma túy thì Hải A bảo H đi lấy ma túy về để sử dụng. H đồng ý. Sau đó Hải A đưa cho H 100.000đ và bảo H đi đến khu vực bờ hồ thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu để lấy ma túy của một người thA niên tên Đức. Sau đó H điều kHi xe mô tô của Hư (H không nhớ nhãn hiệu và biển số xe) chở Hoàng Văn Hư đi lấy ma túy. Khi H đi đến khu vực bờ hồ thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, thì H xuống xe đi bộ một mình vào trong ngõ thì gặp một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang. Người đàn ông này đưa cho H một túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có một viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng (H hiểu đó là ma túy) nên đã cầm ở lòng bàn tay phải rồi đưa cho A ta số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, H đi ra chỗ Hư đứng đợi rồi điều kHi để về nhà Hải A ở thôn Ngăm Mạc, xã Lãng Ng. Khi H đi đến gần khu vực cổng nhà Hải A thì H xuống xe, còn Hư đi đâu H không rõ. Ngay sau đó H bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số 50/CT - VKSGB ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Gia B đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H khai nhận như nội dung bản cáo trạng là đúng. Bản thân bị cáo thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là 0,2605 gam là ma túy, loại ma tuý Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H xác nhận việc truy tố đối với bị cáo H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị HĐXX cân nhắc đến điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, bản thân bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nhận thức pháp luật hạn chế và nhất thời phạm tội. Mặt khác, bị cáo được sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, có ông bà nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng huân H chương. Do vậy, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, miễn hình phạt phụ cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H xác nhận việc truy tố đối với bị cáo H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng. Ông Mạnh đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 50/CT- VKSGB ngày 03/10/2023. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 90; điều 91; điều 96; khoản 1 Điều 430 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng đưa đi trường giáo dưỡng. Thời hạn giáo dưỡng tính từ ngày bị đưa đi trường giáo dưỡng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Gia B, thừa nhận có tội, không trA luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng : Quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân Huyện Gia B đã làm đúng, đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2023, tại địa phận thôn Ngăm M, xã Lãng Ng, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã Lãng Ng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/01/2007 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2605 gam ma túy, loại ma túy: Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, VKSND Huyện Gia B truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo được sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng (có ông bà nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng huân H chương). Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Mặt khác, tại thời điểm phạm tội cũng như đến phiên tòa hôm nay bị cáo H là người chưa thành niên. Do vậy, bị cáo H được hưởng nguyên tắc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội là phù hợp pháp luật.

Tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, chỉ cần áp dụng biện pháp tư pháp khác được quy định tại khoản 1 điều 430 BLTTHS (đưa bị cáo vào trường giáo dưỡng) một thời gian cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân, không vì mục đích vụ lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

Liên quan trong vụ án này còn có Nguyễn Đắc Hải A trình bày: Bản thân Hải A có quen biết Nguyễn Văn H, tuy nhiên ngày 20/9/2023, Hải A không gặp H và Hư, không sử dụng ma túy cùng với Hư, H, Nam. Hải A không đưa tiền cho H để đi mua ma túy như H đã trình bày. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng Nguyễn Đắc Hải A vẫn giữ nguyên lời khai và không thừa nhận về hành vi như H đã trình bày ở trên. Vì vậy không có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Hải A.

Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của Hoàng Văn Hư. Hư khai nhận bản thân Hư có quen biết Nguyễn Văn H. Ngày 20/9/2023, Hư không gặp H, không cùng Hư đến nhà Nguyễn Đắc Hải A nên không có việc cùng H sử dụng ma túy tại nhà Hải A, không có việc cùng H đi mua ma túy của người tên Đức như H trình bày. Vì vậy không có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Hoàng Văn Hư.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa phương xác định được tại khu vực bờ hồ thôn Bảo Th, xã Đông C, Huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh, có đối tượng tên Nguyễn Văn Đ sinh năm 1981. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ trình bày: Đ không biết Nguyễn Văn H. Ngày 20/9/2023, Đức không bán ma túy cho H. Vì vậy không có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 90; điều 91; điều 96; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 430 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 tháng đưa đi trường giáo dưỡng. Thời hạn giáo dưỡng tính từ ngày bị cáo bị bắt đưa đi trường giáo dưỡng.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ