- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 01/2023/HS-ST |
N gày: 03-01-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH T
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tú. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Phương Nam và bà Trần Thị Thanh Xuân. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Tòa án. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn, Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 308/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022, Thông báo về việc chuyển thời gian xét xử số 240/2022/TB-TA ngày 19/12/2022, đối với bị cáo: Phùng Văn S, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1988 tại N; Nơi cư trú: Xóm H, xã M, huyện Đ, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùng Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1940; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, có 01 con sinh năm 2013; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại xã M, huyện Đ, tỉnh N, đi học đến lớp 09/12 thì nghỉ. Lớn lên lập gia đình và làm nghề tự do cho đến ngày gây án. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt. - Bị hại: Anh Cao Ngọc S, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh B. Vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 80 N, phường H, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt. + Ông Đặng Văn T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh N. Có mặt. + Ông Nguyễn Cữu H, sinh năm 1954. Địa chỉ: Số 94 đường H, phường B, thành phố H, tỉnh T. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trương Minh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Hồ, phường H, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phùng Văn S từ N vào làm công nhân xây dựng nhà máy nước V tại phường T, thành phố H và ở lại tại lán trại địa chỉ 81 H. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/9/2021, Phùng Văn S đi từ lán trại của mình đến địa chỉ 94 H, phường B, thành phố H để mua thuốc lá thì gặp các anh làm cùng với Song gồm: Cao Ngọc S, Đinh Thanh C, Đinh Quốc C, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn K đang ngồi nhậu. Do có mâu thuẫn trước đó trong công việc nên anh C đứng dậy đi về phía S nói: "Chừ mi ưa đập không, thích đánh không". S trả lời: "Em làm chi mà ưa đập, thôi các anh ngồi nhậu tiếp đi". Lúc này, anh S, anh C cũng đứng dậy đi đến chỗ S. Anh S dùng tay đấm 01 cái vào miệng S chảy máu, ngã xuống đường; Anh C, anh C cũng dùng tay đấm thêm 02-03 cái nữa thì S vùng dậy chạy về lán trại nơi mình tạm trú. Sau đó, S gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn T làm cùng chỗ với S kể lại sự việc bị đánh và nhờ anh T đến hòa giải vì cho rằng anh T là người địa phương và có quen biết với nhiều người thì anh T đồng ý. Một lúc sau, anh T chèo thuyền sang lán của S, S mượn xe mô tô chưa có biển số của anh Đặng Văn T đang ở cùng lán trại nói đi có việc nên anh T đồng ý. Song cầm theo 01 thanh sắt rằn xây dựng dài khoảng 67cm lấy ở lán và ngồi phía sau xe mô tô anh T điều khiển đi tìm nhóm C với mục đích hòa giải. Anh T hỏi S cầm theo thanh sắt làm gì thì S nói để phòng thân nên anh T không nói gì. Trên đường đi, anh T và S không bàn bạc hay trao đổi gì về việc tìm nhóm C để đánh trả thù. Khi còn cách nhà trọ 94 H khoảng 02- 03 mét thì anh T dừng xe lại vì thấy nhóm C đang ngồi nhậu. S xuống xe tay cầm thanh sắt đi bộ đến chỉ mặt và nói “sao bây đánh tao" thì nhóm của C đứng dậy cầm ghế đánh, S liền cầm thanh sắt đánh 01 cái về phía anh S, anh S cầm ghế đỡ làm vỡ ghế. S đánh thêm 01 cái theo hướng từ trên xuống thì anh S giơ tay trái lên đỡ nên trúng ở tay, S tiếp tục đánh thêm 01 cái trúng vào vùng xương sườn bên trái của anh S gây thương tích. Lúc này anh C, anh C chạy vào phòng trọ, anh lấy 01 cây xà beng bằng sắt, anh C lấy 01 cây rựa chạy ra đánh S làm rơi thanh sắt. Anh C tiếp tục đánh 01 cái trúng lưng, 02-03 cái trúng vào xương sườn của S. Thấy vậy, anh T nhảy xuống xe bỏ chạy thì vấp ngã liền bị anh C xông đến dùng rựa chém 01 cái trúng gót chân phải, anh C cầm xà beng đánh 01 cái vào cẳng chân phải và 01 cái vào tay trái của anh T gây thương tích. Quá trình anh T bỏ chạy làm rơi 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia và bị vỡ màn hình. Lúc này, ông Nguyễn Cữu H là chủ nhà trọ cùng với người dân đến can ngăn nên không đánh nhau nữa. Hậu quả: Anh Cao Ngọc S bị thương được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H đến ngày 28/9/2021 ra viện. Anh Nguyễn Văn T bị thương được đưa đến Bệnh viện Đại học Y Dược H khâu vết thương rồi về nhà. Phùng Văn S bị thương tích nhẹ nên không nhập viện điều trị.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 446-21/TgT ngày 26/10/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận thương tích của anh Cao Ngọc Sơn như sau: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương gãy thân xương trụ trái đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương, hiện thẳng trục, không ảnh hưởng chức năng. 7%. Vết sẹo phẫu thuật kết hợp xương trụ trái. 2%. Chấn thương gãy cung bên xương sườn 9 bên trái không ảnh hưởng chức năng 2%. Chấn thương đụng dập nhu mô phổi hiện đã điều trị ổn định không để lại di chứng. 6%. 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 16%. 3. Vật gây: Vật tày. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 197-22/TgT ngày 24/5/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn T như sau: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương phần mềm cẳng chân phải để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng: 2% Vết thương phần mềm sau cổ chân trái, để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng: 2% 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 4%. 3. Vật gây, cơ chế hình thành: Tổn thương mắt trước cẳng chân phải do vật tày có cạnh tác động hướng trên xuống dưới. Tổn thương mặt sau cổ chân trái do vật sắc tác động hưởng sau tới. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 198-22/TgT ngày 25/5/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận thương tích của Phùng Văn S như sau: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Ngày 23/9/2021 nạn nhân có siêu âm tại Phòng khám Pháp Việt kết luận: Theo dõi rạn xương sườn số VIII phải. Tuy nhiên kết quả đọc lại phim và thăm khám hiện tại của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh không phát hiện gãy xương sườn, chúng tôi không xếp tỷ lệ. Đa chạm thương phần mềm thân thể đã lành, không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng: 0% 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 0%. 3. Vật gây, cơ chế hình thành: Vật tày. Vật chứng thu giữ - 01 thanh sắt rằn xây dựng, đường kính 22mm, dài 67cm; - 01 cây xà beng bằng sắt dài 130cm, nơi rộng nhất đường kính 32cm, tán dẹt uống cong hai đầu;
- 01 cây rựa dài 54cm; lưỡi bằng thép màu đen dài 30cm, đầu uốn cong; cán bằng gỗ tre dài 24cm, đường kính 30mm; - 01 mũ bảo hiểm xe máy bằng nhựa; - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen bị vỡ màn hình; - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh-đen, chưa có biển số; - 04 cái ghế nhựa, màu vàng-trắng bị vỡ. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe mô tô hiệu Honda Wave thuộc quyền sở hữu của anh Đặng Văn T; 04 cái ghế nhựa là của ông Nguyễn Cữu H. Anh T và ông H không biết được bị cáo và các đối tượng sẽ sử dụng trong quá trình đánh nhau nên Cơ quan điều tra trả lại cho anh T và ông H. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng. Anh S đã nhận đủ tiền không yêu cầu gì thêm, đồng thời làm đơn bãi nại cho bị cáo. Ông H không yêu cầu bồi thường vì ghế nhựa đã cũ và không còn giá trị. Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường về chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen bị vỡ màn hình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận việc khởi tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo. Tại bản cáo trạng số 317/CT-VKSTPH ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Phùng Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử: - Tuyên bố bị cáo Phùng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Phùng Văn S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. - Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen bị vỡ màn hình. Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh sắt rằn xây dựng, đường kính 22mm, dài 67cm; 01 cây xà beng bằng sắt dài 130cm; 01 cây rựa dài 54cm, cán bằng gỗ tre dài 24cm và 01 mũ bảo hiểm xe máy bằng nhựa. - Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn S phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Khoảng 19 giờ ngày 22/9/2021, tại địa chỉ 94 H, phường B, thành phố H, Phùng Văn S do tức giận vì bị các anh Cao Ngọc S, Đinh Thành C, Đinh Quốc C dùng tay chân đánh trước đó nên đã sử dụng 01 thanh sắt rằn xây dựng, đường kính 22mm, dài 67cm (là hung khí nguy hiểm) đánh vào người anh S gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Phùng Văn S về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng thanh sắt rằn xây dựng là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo không chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng hòa giải mà giải quyết mâu thuẫn bằng việc đánh nhau nên dẫn đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm. [4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và cũng có một phần lỗi trong vụ án khi đã đánh bị cáo trước đó; bố mẹ và mẹ bị cáo đều là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, hậu quả xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại, hoàn cảnh gia đình neo đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố H tại phiên tòa là phù hợp. [5] Đối với anh Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác định anh T không có mâu thuẫn gì với nhóm của Cao Ngọc S. S nhờ anh T chở đi mục đích là hòa giải, anh T không mang hung khí gì, cả hai không trao đổi hay bàn bạc gì về việc đánh trả thù mà chỉ nói đi giảng hòa, S cũng thừa nhận như vậy. Việc S cầm theo thanh sắt thì anh T biết nhưng do S nói cầm theo để phòng thân, khi S đánh S thì anh T không tham gia đánh mà vẫn ngồi trên xe và sau đó anh T cũng bị C và C đuổi đánh gây thương tích 4% nên anh T không đồng phạm với S. Đối với các anh Đinh Thành C và Đinh Quốc C có hành vi dùng hung khí đánh S và gây thương tích cho anh T 4%. Cả S và anh T đều có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 17.000.000 đồng. Anh S đã nhận đủ tiền không yêu cầu gì thêm. Ông Nguyễn Cữu H không
yêu cầu bồi thường 04 ghế nhựa vì ghế nhựa đã cũ không còn giá trị. Anh Nguyễn Văn T tự khắc phục thiệt hại đối với điện thoại Nokia màu xanh-đen và không yêu cầu bồi thường. Không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về xử lý vật chứng: - 01 thanh sắt rằn xây dựng, đường kính 22mm, dài 67cm; 01 cây xà beng bằng sắt dài 130cm; 01 cây rựa dài 54cm, cán bằng gỗ tre dài 24cm và 01 mũ bảo hiểm xe máy bằng nhựa là vật chứng của vụ án, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen bị vỡ màn hình là của anh Nguyễn Văn T nên trả lại cho anh T. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Phùng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Phùng Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phùng Văn S cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: - Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt rằn xây dựng, đường kính 22mm, dài 67cm; 01 cây xà beng bằng sắt dài 130cm; 01 cây rựa dài 54cm, cán bằng gỗ tre dài 24cm và 01 mũ bảo hiểm xe máy bằng nhựa. - Trả lại cho anh Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh-đen bị vỡ màn hình. Vật chứng trên được xác định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Phùng Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - Sở Tư pháp tỉnh T; - Phòng PV 27 CA tỉnh T; - VKSND TP H; - CA thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Bị cáo; - Bị hại; Nguyễn Đình Tú - Người có quyền lợi, nghĩa vụ - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa liên quan; |