- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Ngọc T vô ý gây thương tích - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vô ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 11 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.
2. Ông Lê Minh Chiểu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2022/TLST - HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1992 tại xã Q, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn C 3, xã Q, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1969 và bà: Vũ Thị H, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất, vợ là Bùi Thị H1, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phan Văn L, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị L1, sinh năm 1991 (là vợ anh L (có mặt).
Đều trú tại: Thôn C 2, xã Q, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngà, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Ngọc H3, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1990 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn C 3, xã Q, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
2. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
3. Anh Phạm Văn L, sinh năm 1987 (Có mặt).
Đều trú tại: Thôn C 2, xã Q, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
4. Anh Lê Văn T3, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
5. Anh Vũ Đình D, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
6. Anh Trần Văn L, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn C 1, xã Q, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
7. Bà Phạm Thị L3, sinh năm 1961 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
8. Anh Nguyễn Trọng V, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn 2, xã Q, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Người chứng kiến:
1. Ông Hàn Hải Đ, sinh năm 1945 (Vắng mặt).
2. Chị Vũ Thị L4, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn C 2, xã Q, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 23 giờ ngày 26/4/2021 nhóm bạn gồm: Nguyễn Ngọc T, Phan Văn L (sinh năm 1988), Lê Văn T3 (sinh năm 1992), Phạm Văn L (sinh năm 1987), Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1990), Nguyễn Trọng V (sinh năm 1988), Vũ Đình D (sinh năm 1976), Trần Văn L (sinh năm 1989), Trần Văn Đ (sinh năm 1989), cùng trú tại xã Q, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đến quán Karaoke Họa Mi thuộc địa phận thôn Duyên Hy, xã Định Hưng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để hát. Cả nhóm hát đến khoảng hơn 4 giờ sáng ngày 27/4/2021 thì nghỉ, ra quầy thanh toán tiền hát. Lúc này giữa T và Tùng có lời qua tiếng lại với nhau về việc thanh toán tiền, T dùng chân đạp vào người Tùng thì được mọi người can ngăn, Tùng điều khiển xe ô tô tải chở L và Lâm ra cổng để về trước nhưng do lúc này chưa thanh toán hết tiền hát nên quán chưa mở cửa cổng. Một lúc sau, T đi ra ngoài nói với Tùng về việc còn thiếu tiền hát nên chưa về được thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, Tùng, L, Lâm và T đi vào trong quán, nhưng vì Tùng và T tiếp tục cãi nhau nên Lâm rủ L và Tùng ra xe để về. Khi đi ra cổng do cổng chưa mở nên ba người không về được mà đứng ở cổng, lúc này T chạy theo gọi Tùng xuống để nói chuyện. Khi Tùng xuống xe ô tô thì L và Lâm cũng xuống xe, T khoác vai Tùng đi vào phía quán sau đó dùng tay phải đấm một cái vào bụng làm Tùng khó thở và ngồi khụy xuống đất. Thấy vậy, Lâm và Hưng chạy lại xoa bụng và lưng cho Tùng. Thấy T đánh Tùng thì L đi đến đánh T nhưng không trúng, rồi T hỏi L “Sao anh đánh em?”, L trả lời “Tao thích thì tao đánh”, L tiếp tục lao vào dùng tay đấm vào người T thì T dùng hai tay vằng, gạt tay L ra nên L lùi lại phía sau khoảng 1 – 2 bước vô tình bị trượt ngã xuống nền bê tông, đập đầu vào cạnh bồn hoa ở cổng quán. Lúc này Tùng nghe tiếng động nhìn lên thấy L bị ngã và T đang đứng gần L, nghĩ là T đánh L nên Tùng vùng dậy lấy một thanh luồng ở cổng quán chạy lại đập về phía T nhưng do Hưng can ngăn lại làm thanh luồng bị gãy thành hai đoạn rơi xuống nền cổng. T nhặt một đoạn luồng bị gãy lùa theo Tùng nhưng Tùng chạy vào trong quán, khi đó T quay lại thì được Lâm và Hưng giữ lại (BL 150 – 152, 159 -160).
Lúc này, L ngồi dậy và đi vào phía trong sân quán đứng cùng mọi người, Hưng cầm điện thoại đi lại chỗ L bị ngã xem thì thấy có vết máu ở cạnh bồn hoa, và dùng điện thoại soi vào sau đầu của L thấy chảy máu, Hưng hỏi L nhưng L nói không sao. Sau đó Tùng lái xe đưa L và Lâm về. Khi về đến cổng nhà L thì Lâm cùng với L xuống xe còn Tùng đi về nhà. L và Lâm ngồi ở cổng nhà L nói chuyện với nhau được một lúc thì Lâm đi về nhà mình, L nằm ngủ quên ở cổng. Đến khoảng 6 giờ sáng cùng ngày, chị Lê Thị L1, sinh năm 1991(là vợ của L) mở cửa cổng ra thì thấy L đang nằm ở cổng, trên áo có dính máu, chị L1 kiểm tra người nhưng không thấy bị thương, nghĩ L bị say rượu nên chị L1 đã nhờ hàng xóm đưa L vào giường để ngủ. Đến 16 giờ cùng ngày, chị L1 gọi anh L dậy thì không thấy trả lời nên đã gọi gia đình đưa L đến Bệnh viện đa khoa huyện Thiệu Hóa để cấp cứu. Qua kết quả cấp cứu ban đầu, Bệnh viện xác định L bị tụ máu ở màng cứng vùng thái dương chẩm phải nên L được chuyển xuống bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa để mổ não và điều trị. Sau đó anh L điều dưỡng tại Bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng T ương Thanh Hóa và hiện tại đang được chăm sóc tại nhà (BL 198 – 199, 222, 239 – 240).
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể và hồ sơ bệnh án xác định L có các dấu vết sau: Chấn thương sọ não, máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương chẩm phải – dập não (BL 68).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 567/2021/TTPY ngày 02/6/2021 của T tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Phan Văn L là 98%. Kết luận giám định bổ sung số 617/2021/TTPY về cơ chế hình thành thương tích của Phan Văn L xác định: Phan Văn L bị ngã va chạm vùng đỉnh chẩm đầu tại hiện trường nơi L và T xảy ra xô sát thể hiện qua bản ảnh dựng lại hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa cung cấp kèm theo hồ sơ thì hoàn toàn gây nên được thương tích cho anh L như đã ghi nhận tại bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa (BL 76, 93).
Ngày 10/6/2022, cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 169/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định hình ảnh được trích xuất từ camera số 5 (vị trí camera hướng ra phía sân của quán). Ngày 12/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có kết luận giám định số 2721/KT-KTHS kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 01UBS gửi giám định.
Ngày 30/8/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện đã ra Quyết định thực nghiệm điều tra số 01/QĐ-CSĐT tiến hành cho Nguyễn Ngọc T thực hiện lại hành vi phạm tội của mình. Qúa trình thực nghiệm đã tiến hành chụp ảnh, quay video và vẽ sơ đồ theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Qúa trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 02 thanh gậy bằng luồng, do Trần Ngọc H3 giao nộp. Đây là thanh luồng Tùng lấy ở bồn hoa ở cổng quán đập anh T, nhưng do Hưng can ngăn nên bị gẫy thành hai. Qúa trình làm việc, anh Hiếu trình bày do thanh luồng không có giá trị sử dụng nên anh không nhận lại thanh luồng trên. Hiện thanh luồng đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thống nhất thỏa thuận: Nguyễn Ngọc T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh L tổng số tiền là 200.000.000đ. T đã bồi thường được số tiền 110.000.000đ, đại diện gia đình bị hại chị Lê Thị L1 (vợ anh L) đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho T. Số tiền còn lại 90.000.000đ, T sẽ có trách nhiệm bồi thường số tiền trong thời hạn 08 tháng (BL 483 – 485).
Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKSYĐ ngày 13/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Vô ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vô ý gây thương tích”; Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 138, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Ngọc T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 thanh luồng, hiện đang quỹ trữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh L giữa bị cáo T và đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 200.000.000đ. Bị cáo T đã bồi thường được số tiền 110.000.000đ. Số tiền còn lại 90.000.000đ, buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho anh Phan Văn L; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày quan điểm bảo vệ: Đối với tội danh và hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo T để áp dụng hình phạt tương xứng. Đối với trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phan Văn L số tiền là 200.000.000đ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Bị cáo T đã bồi thường số tiền 110.000.000đ, số tiền còn lại 90.000.000đ buộc bị cáo T tiếp tục phải bồi thường.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, chị Lê Thị L1 trình bày: Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo T, chị cũng đồng ý và chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử đúng quy định của pháp luật vì những tổn thất mà gia đình chị đang phải gánh chịu là rất lớn. Về trách nhiệm dân sự, chị thống nhất theo nội dung đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh L giữa chị và bị cáo T.
Cũng tại phần tranh luận: Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, đã nhận thấy hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa sai, đi làm kiếm tiền khắc phục hậu quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc T đã hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng hơn 4 giờ ngày 27/4/2021 tại cổng quán Karaoke Họa My ở thôn Duyên Hy, xã Định Hưng, huyện Yên Định, do bị Phan Văn L lao vào dùng tay đấm vào người nên Nguyễn Ngọc T dùng hai tay vằng, gạt đẩy vào tay của L nhằm mục đích không cho L đánh mình nữa nhưng L lùi lại phía sau thì bị trượt ngã xuống nền bê tông, đầu đập vào cạnh bồn hoa ở cổng quán. Hậu quả L bị thương tích ở vùng đầu, với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 98%.
Lời khai nhận của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của T đã gián tiếp gây thương tích cho L dẫn đến hậu quả L bị thương tích ở vùng đầu, với tỉ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 98% đã phạm tội “Vô ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Đây là vụ án vô ý gây thương tích có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm để giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả một phần thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s, b Khoản 1 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên, hậu quả tổn thương cơ thể cho anh L là 98%, suốt một thời gian dài khi sự việc xảy ra bị cáo T không quan tâm hỗ trợ đối với anh L, gây bất bình cho gia đình bị hại. Sau khi vụ án bị hủy để điều tra lại, T mới có động thái để bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Ngày 10/10/2022, tại buổi thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại thì đại diện gia đình bị hại đã viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo T theo đúng quy định của pháp luật vì những tổn thất đối với gia đình bị hại là rất lớn. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ điều kiện, thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 thanh gậy bằng luồng, do Trần Ngọc H3 giao nộp. Đây là thanh luồng Tùng lấy ở bồn hoa ở cổng quán đập T, nhưng do Hưng can ngăn nên bị gẫy thành hai. Qúa trình làm việc, anh Hiếu trình bày do thanh luồng không còn giá trị sử dụng nên anh không có đề nghị nhận lại thanh luồng trên. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình giải quyết vụ việc, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phan Văn L với tổng số tiền là 200.000.000đ. Hiện tại bị cáo đã bồi thường được số tiền 110.000.000đ. Số tiền còn lại 90.000.000đ bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho anh L.
Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là sự tự nguyện nên ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các bên.
[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 138, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Điểm a, c Khoản 1 Điều 23, Khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vô ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gậy luồng kích thước 93cm x 5,4cm và 01 thanh gậy luồng kích thước 104cm x 5,4cm theo phiếu nhập kho số NK 13 ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.
4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phan Văn L giữa bị cáo Nguyễn Ngọc T và đại diện hợp pháp của người bị hại với số tiền bồi thường là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Bị cáo T đã bồi thường được số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng). Buộc bị cáo T tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phan Văn L số tiền là 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Chi cục THADS huyện Yên Định; - Bị cáo; bị hại, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại; - Lưu: hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |