vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 29/09/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2023/HS-ST
Ngày 10-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Phấn;

Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân

Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân C, sinh ngày 17/01/1995, nơi cư trú: xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và con bà Đặng Thị X; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ từ ngày 30/9/2022 đến ngày 09/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Xuân Trường. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 4, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

-Người làm chứng:

- Ông Đặng Văn T; vắng mặt.

- Anh Đặng Văn N; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 29/09/2022, Nguyễn Xuân C, sinh năm: 1995,

trú tại: xóm H, xã G, huyện G điều khiển xe mô tô kiểu dáng Honda Wave, màu đỏ đen, BKS: 17K8-5612 đi trên tỉnh lộ 489 hướng huyện G đi huyện Xuân Trường. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Công phát hiện phía trước cùng chiều có chị Nguyễn Thị h, sinh năm: 1988, trú tại xóm 4, xã X, huyện X tay phải đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, BKS: 18F1-38111, còn tay trái cầm điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu xanh nghe ở tai trái. Quan sát thấy trên đường vắng người qua lại nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Ngay sau đó, C điều khiển xe đến gần phía bên trái xe chị H vờ hỏi đường để giật điện thoại, chị H trả lời không biết, C liền điều khiển xe áp sát xe chị H rồi dùng tay trái vòng sang bên chị H để giật điện thoại nhưng do chị H thấy vậy đã phanh xe dừng lại và xuống xe nên C không giật được. C tiếp tục điều khiển xe dừng trước xe chị H. Sau khi xuống xe, chị H cúi xuống dùng hai tay giữ chặt điện thoại vào phía trước bụng rồi hô «Cướp, cướp». C nhanh chóng xuống xe rồi tiến đến áp sát phía sau vòng tay qua bụng ôm chị H rồi dùng hai tay để giằng điện thoại mà chị H đang giữ. Trong lúc Cđang giật điện thoại thì phía trước có anh Đỗ Văn T, sinh năm: 1996, trú tại: xóm 5, xã X và anh Đặng Văn n, sinh năm: 1996, trú tại: xóm 2, xã X điều khiển xe mô tô đi tới. C sợ bị phát hiện nên lỏng tay, chị H đã thoát ra vùng chạy và hô « cướp ». C thấy vậy định lên xe bỏ trốn thì bị anh T, anh Nam kịp thời khống chế và giao C cho Cơ quan công an huyện Xuân Trường xử lý.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường tiến hành lập biên bản tiếp

nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; thu giữ 01 xe mô tô BKS: 17K8-5612 của Công sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro của chị H để phục vụ điều tra.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân Công, Cơ quan điều

tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì

Tại Bản kết luận định giá số 94/KL-HĐĐG ngày 07/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Xuân Trường kết luận:

Tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 29/9/2022 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu xanh, Ram 6G/128G, có giá trị 2.500.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Qúa trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường

đã trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu xanh cho chị Nguyễn Thị H, chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Cáo trạng số 82CT-VKS-XT ngày 07/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Xuân Trường đã truy tố hành vi của Nguyễn Xuân C về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về tội danh và hình phạt chính:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Cướp tài sản”.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù

Về hình phạt bố sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nữa là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 17K8-5612 mà bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa rõ được nguồn gốc nên tách hồ sơ tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Cướp tài sản” như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân

Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc kết tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các

lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 29/09/2022, tại tỉnh lộ 489 thuộc khu vực xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Nguyễn Xuân C có hành vi dùng vũ lực ôm, khống chế làm cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú; xóm 4, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt chiếc điện thoại OPPO F11Pro, màu xanh, trị giá 2.500.000đ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Cướp cắp tài

sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác cũng như tính mạng con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị án, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Nguy hiểm ở chỗ khi chị H giữ tài sản thị bị cáo khống chế bằng cách dùng vũ lực ôm chị H, không chế chị H làm chị chị H lâm vào tình trạng không thể chống cự được để bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là người có năng lực hành vi nhận thức được việc làm của mình, bị cáo đã bị xử phạt tù về tội chiếm đoạt tài sản và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục đi Cướp tài sản để có tiền chi tiêu cá nhân điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo

không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào nhân thân tình tiết

tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sụng: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên

HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 17K8-5612 đã thu giữ của bị cáo C là của bà Đặng Thị X mẹ đẻ của bị cáo . Xét thấy chiếc xe này bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội, quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa rõ được nguồn gốc nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường tách hồ sơ tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình

sự.

-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Cướp tài sản”.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn

tù tính ngày 29/09/2022.

2. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân C phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm,

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh;

(đã ký)

- VKSND tỉnh, huyện;

- Chi cục THADS huyện;

- Công an huyện;

- UBND xã

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu văn phòng.

Phạm Ngọc Long

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ