vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Liberty màu đen, BKS: 34B4-388… và 01 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày 13/01/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn San và bà Nguyễn Thị Hải Yến.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo- Kiểm sát viên.

Ngày 13/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2022/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 03/01/2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T và Đỗ Thị T; Vợ, con: Chưa có; gia đình có ba anh em bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2022 đến ngày 12/8/2022, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương từ ngày 12/8/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Công M, sinh năm 1995; địa chỉ: Phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1972 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1975;

+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991;

+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991;

+ Anh Đào Công T2, sinh năm 1993;

+ Chị Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1994;

+ Chị Bùi Thị L, sinh năm 1997;

Ông T, bà T có mặt, những người làm chứng khác đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Đ là công nhân của Công ty TNHH Z.. Việt Nam, địa chỉ tại cụm công nghiệp xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/08/2022 khi hết giờ làm việc, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Liberty, BKS: 34B4-388... đi về nhà, khi đi qua đoạn cổng Công ty ra đường tỉnh 391 thì xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô do anh Nguyễn Công M điều khiển chở anh Nguyễn Ngọc T ngồi sau xe. Anh T vung tay đấm một cái vào vùng vai của Đ, nên Đ dừng xe xuống hỏi anh T lý do tại sao đánh mình, hai bên có lời qua tiếng lại thì anh T, anh M xuống xe, tiến đến dùng tay chân đánh vào người và tát vào mặt Đ một vài cái. Do bị anh T và anh M đánh, Đ đã đi bộ ra hướng đường 391, gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn N (là bạn đang trên đường đi làm về), nói cho anh N biết mình bị đánh và nhờ anh N đến can ngăn giúp. Anh N đồng ý và đi xe máy đến khu vực đường vào Công ty TNHH Z.., thì gặp Đ đang đi bộ ra đường 391, anh T và anh M đi phía sau Đ. Anh N xuống xe đi đến hỏi anh T và anh M tại sao đánh Đ thì bị anh T dùng tay đấm 01 cái vào vai của anh N. Do bị anh T đánh nên anh N dùng tay đánh lại anh T, thì cả anh M và anh T cùng lao vào dùng chân tay đánh anh N, thấy vậy Đ cũng xông vào dùng chân tay đánh nhau với anh T và anh M. Hai bên đánh nhau được khoảng 01 phút thì anh Nguyễn Văn T1 là bạn của anh T và anh M vào can ngăn, nên tất cả dừng lại không đánh nhau nữa.

Do vẫn bực tức việc bị anh T và anh M đánh, nên Đ đi bộ về vị trí xe mô tô của mình dựng gần cổng Công ty Z.., lấy trong túi vải treo ở phía trước võng xe ra 01 con dao dạng dao gấp, lưỡi dao nhọn, dài khoảng 09cm, bản rộng nhất 2-3cm bằng kim loại, chuôi dao dài khoảng 10cm màu xám, cầm trên tay phải, chạy về phía anh T đứng đối diện rồi dùng dao đâm một nhát từ trước ra sau vào vùng đùi bên trái của anh T làm anh T bị thương ngã ra đường. Lúc này anh M đang đứng nói chuyện với anh N, cách vị trí của anh T khoảng hơn 10m, thấy Đ cầm dao chạy về phía anh T và đâm anh T nên đã chạy đến can ngăn. Sau khi đâm 01 nhát vào đùi anh T, Đ quay ra và thấy anh M đang chạy đến phía mình, nghĩ anh M chạy đến đánh mình nên Đ cầm dao trên tay phải, giơ lên chĩa mũi dao về phía Minh và nói “Đừng vào đây”, mục đích đe dọa để anh M không xông vào đánh mình, nhưng anh M vẫn lao về phía Đ, nên mũi dao của Đ cầm đã đâm trúng một nhát vào vùng ngực bên phải của anh M, làm anh M bị thương ngã ra đường. Thấy anh T và anh M ngã ra đường, anh N chạy đến thì phát hiện anh T bị thương chảy nhiều máu ở vùng đùi nên hỏi Đ thì Đ cho biết vừa dùng dao đâm anh T và anh M. Do lo sợ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của anh T và anh M, nên anh N và Đ đã bế anh T lên xe, chở ra phòng khám đa khoa H (địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện Tứ Kỳ) để sơ cứu, sau đó chở đến Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ cấp cứu, còn anh M được anh T1 và một số người đưa đến Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ cấp cứu. Sau đó anh T được chuyển lên Bệnh viện Trung ương quân đội 108 điều trị đến ngày 11/8/2022 thì xuất viện. Anh M được chuyển lên Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức - Hà Nội, điều trị đến ngày 10/8/2022 thì xuất viện về nhà. Đến ngày 06/8/2022, Phạm Văn Đ đến Công an huyện Tứ Kỳ đầu thú.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 332/TgT, ngày 21/10/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Hải Dương đối với anh Nguyễn Công M, kết luận: Vết thương ngực phải gây đứt sụn sườn 5- 6, đứt động mạch liên sườn, rách nhu mô phổi phải, chảy máu khoang màng phổi phải, đã mổ xử lý. Hiện ổn định để lại 01 sẹo vết thương, mổ, dẫn lưu kích thước trung bình và nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%, tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc nhọn gây ra, anh M bị người khác dùng dao đâm gây ra là phù hợp.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 331/TgT, ngày 21/10/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Hải Dương đối với anh Nguyễn Ngọc T, kết luận: Vết thương vùng bẹn trái gây rách tĩnh mạch đùi trái, mất máu cấp gây sốc, được mổ xử lý, hồi sức tích cực. Hiện ổn định để lại sẹo vết thương, mổ vùng mu - bẹn trái kích thước lớn. 02 sẹo vết thương phần mềm vùng dương vật, bìu trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật nhọn sắc nhọn gây ra, anh T bị người khác dùng dao đâm gây ra là phù hợp.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 15/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích’’ theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại anh Nguyễn Công M và anh Nguyễn Ngọc T trong quá trình điều tra và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đều xác định: Thương tích của anh M, anh T là do bị cáo Phạm Văn Đ gây ra. Về trách nhiệm dân sự giữa anh M, anh T và bị cáo đã thỏa thuận giải quyết xong nên các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ông Phạm Khắc T và bà Đỗ Thị T trình bày: Ông bà là bố mẹ của bị cáo Đ. Trong quá trình điều tra, bị cáo Đ đã tác động để ông bà thay bị cáo bồi thường cho các bị hại, cụ thể: bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T số tiền 50.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Công M số tiền 40.000.000 đồng. Tổng cộng là 90.000.000đ. Ông bà tự nguyện cho bị cáo số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả.

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích’’. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2022; Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio loại Liberty màu đen, BKS: 34B4-388.02 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, số sê ri F2LXCG87KPHF, lắp sim số 0848.211.998; Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 02/8/2022 tại trục đường bê tông thuộc cụm công nghiệp N, thuộc địa phận xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, do có va chạm giao thông giữa Phạm Văn Đ với anh Nguyễn Công M và anh Nguyễn Ngọc T nên đã xảy ra xô xát giữa anh T và Minh với Đ và anh Nguyễn Văn N (bạn của Đ vào can ngăn) dẫn đến hai bên lao đánh nhau bằng chân tay không khoảng chừng 01 phút. Khi được anh T1 vào can ngăn, các bên đã dừng lại không đánh nhau nữa. Nhưng do vẫn còn bực tức nên Đ đã đi ra xe của mình lấy 01 con dao dạng dao gấp, lưỡi dao nhọn bằng kim loại đâm 01 nhát vào vùng đùi trái của anh T, làm anh T bị thương, tổn thương cơ thể là 10% và đâm 01 nhát vào vùng ngực phải của anh M, làm anh M bị tổn thương cơ thể là 16%.

Trong hai người bị thương tích do bị cáo gây ra, có anh M bị Đ đâm 01 nhát vào ngực phải, tuy nhiên trước khi đâm, bị cáo không có mục đích tước đoạt tính mạng của anh M. Chính anh M cũng xác định khi nhìn thấy anh T bị thương, anh chạy đến chỗ Đ thì Đ có giơ dao lên, chĩa mũi dao về phía anh và nói “Đừng vào đây”, nhưng anh vẫn lao nhanh về phía Đ nên mũi dao đã đâm vào ngực phải của mình. Hành vi khách quan của Đ đã chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của anh M. Nhưng Phạm Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng dao đâm gây thương tích tổn hại sức khỏe cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng dao là “hung khí nguy hiểm” gây thương tích cho anh T là 10%, anh M là 16% nên phải chịu tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn. Do vậy, cần xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và là người có nhân thân tốt; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và trong vụ án này, các bị hại cũng có một phần lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và các bị hại đã tự thoả thuận bồi thường xong về trách nhiệm dân sự, người bị hại không đề nghị bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra việc giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio loại Liberty màu đen, BKS: 34B4-388… và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, số sê ri F2LXCG87KPHF, lắp sim số 0848.211…. do bị cáo Đ tự nguyện giao nộp, chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với con dao gấp có đặc điểm lưỡi dao nhọn, dài khoảng 09cm, bản rộng nhất 2-3cm bằng kim loại, chuôi dao dài khoảng 10cm màu xám, Đ sử dụng để gây thương tích cho anh T và anh M, quá trình điều tra Đ xác định khi đưa anh T đi cấp cứu đã làm rơi mất. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đặt ra xử lý.

Đối với hành vi xô xát đánh nhau của Đ, anh T, anh M, anh N tại trục đường bê tông của cụm Công nghiệp xã Nguyên Giáp vào tối ngày 02/8/2022, sự việc diễn ra nhanh, đã được can ngăn, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của địa phương. Do vậy hành vi của Đ, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Ngọc T và anh Nguyễn Công M không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 BLHS, hành vi gây thương tích của Đ đã bị xét xử. Vì vậy, ngày 01/12/2022 Công an huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 181; 182; 183 đối với anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Ngọc T, anh Nguyễn Công M với hình thức phạt tiền, mức phạt 5.000.000 đồng là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn N được Đ gọi đến mục đích để can ngăn, không cho anh T và anh M đánh Đ. Khi đến anh N mới hỏi sự việc thì đã bị anh T và anh M dùng chân tay đánh nên anh N mới dùng chân tay đánh lại. Việc Đ dùng dao gây thương tích cho anh T và anh M là sau khi việc xô sát giữa anh N, Đ với anh M, anh T đã chấm dứt. Anh N không biết việc Đ ra xe máy lấy dao để gây thương tích cho anh T và anh M. Do vậy anh N không phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm với Đ về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Liberty màu đen, BKS: 34B4-388… và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, số sê ri F2LXCG87KPHF, lắp sim số 0848.211…..

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 05/01/2023).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ