vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản"

Về hình phạt: xử phạt Nguyễn Xuân H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/9/2022). Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/HS-ST
Ngày: 05/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TP H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Lan H Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim V và ông Lương Văn H

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị H - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện T

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa:

Ông Tô Quốc H - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

91/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo: NGUYỄN XUÂN H, sinh năm 1979; HKTT: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Xuân K và bà Nguyễn Thị N; Vợ: Hoàng Thị L, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 18/02/2002, Công an phường P, quận H, TP H xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 10/8/2002, Tòa án nhân dân huyện G, TP H xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (đã được xóa án tích).

- Ngày 02/3/2004, Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt 13 năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến nay (có mặt).

* Bị hại: - Anh Vũ Đức H, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố H.

( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 03/9/2022, Nguyễn Xuân H đi xe buýt từ quận H, H đến viếng đám tang ông Nguyễn Văn T ở thôn H, xã T, huyện T, TP H. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi viếng xong, gia đình ông T mời H sang nhà anh Nguyễn Văn T1 là hàng xóm để ăn cơm. Tại nhà anh Toàn có 2 mâm cỗ, H ngồi ăn cùng mâm cơm với các anh Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Nguyễn Xuân H1 và Vũ Đức H2, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H sang mâm bên cạnh để mời rượu, thì phát hiện thấy phía sau bên trái vị trí anh H2 đang ngồi có chiếc điện thoại Iphone 11 promax 256 Gb màu xám đen, H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại mục đích để sử dụng. Thấy mọi người không để ý, Hải tiến lại vị trí chiếc điện thoại dùng tay trái lấy chiếc điện thoại để vào túi quần phía sau bên trái. Sau khi lấy được điện thoại do sợ bị phát hiện nên H đã rời khỏi nhà anh T1 về nội thành H tìm cửa hàng điện thoại mục đích phá khóa chiếc điện thoại vừa trộm cắp được để sử dụng. Khi đang đi trên đường L thì H bị Công an xã T mời về trụ sở làm việc, tiến hành kiểm tra trên người H, phát hiện thu giữ 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 promax 256 Gb màu xám đen. H khai nhận chiếc điện thoại trên vừa trộm cắp tại nhà anh Nguyễn Văn T1 ở thôn H, xã T, huyện T, TP H.

Tại kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐG ngày 06/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại Iphone 11 Promax 256GB mầu xám đen, đã qua sử dụng, có giá 13.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 87/CT - VKS ngày 17/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định như bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Xuân H từ 15 - 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/9/2022).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Vũ Đức H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu khác về dân sự nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy sai lầm, mong muốn được sửa chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tình tiết như cáo trạng truy tố, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội cùng vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 12 giờ ngày 03/9/2022 Nguyễn Xuân H đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax 256 GB màu xám đen, tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 13.000.0000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Xét bị cáo có nhân thân xấu, do vậy có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Vũ Đức H2 đã nhận lại chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax 256 GB màu xám đen, không có yêu cầu khác về dân sự nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản"

2. Về hình phạt: xử phạt Nguyễn Xuân H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/9/2022).

3.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ