- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự Xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự Xử
| TAND HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST |
Ngày 05 tháng 01 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Thuần
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trường
Ông Nguyễn Công Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn P, sinh năm 1985; Giới tính: Nam;
Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: thôn CH, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12;
Con ông: Trần Văn Giang, sinh năm 1961;
Con bà: Đào Thị Là, sinh năm 1963;
Vợ: Nguyễn Thị Hiến, sinh năm 1985;
Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;
Gia đình có 03 anh, chị, em ruột, bị cáo là con cả;
Tiền án: Tại Bản án số 48/2017/HSST ngày 04/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, được miễn án phí và hình phạt bổ sung; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2020.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 23/12/2022 Bị Chủ tịch UBND xã Đông L xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “ Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số: 373a/QĐ-XPHC.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Ngày 26/12/2022 Bị cáo bị bắt tạm giam theo Quyết định bắt, tạm giam số: 03/2022/HSST-QĐ ngày 23/12/2022 Của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
1./ Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H- Sinh năm 1954 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Hưng Đạo, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2./ Người lạm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T- Sinh năm 1983 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Hưng Đạo, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Đặng Đức Q- Sinh năm 1960 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn CH, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn P, sinh năm 1985 ở thôn CH, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là người có tiền án về tội “Cướp giật tài sản”. Khoảng 10 giờ ngày 20/9/2022, P đi bộ qua trước cửa nhà bà Nghiêm Thị Chiến, sinh năm 1967, ở thôn Khoát, xã Đông L thì nhìn thấy chiếc xe đạp của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954 ở thôn Hưng Đạo, xã Đông L dựng ở rìa đường, đầu xe quay vào cửa nhà bà Chiến. P quan sát xung quanh thấy chiếc xe không có ai trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. P đi đến gần dùng hai tay nâng chiếc xe lên, quay đầu xe ra đường dắt xe được khoảng 04m thì đạp xe đi tìm nơi tiêu thụ. Khi P đi qua cổng Trường tiểu học số 1, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa thì anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 ở thôn Hưng Đạo, xã Đông L (là cháu ruột bà H) nhìn thấy. Do nghi ngờ P trộm cắp xe của bà H nên anh T đuổi theo P và hô “trộm”. Thấy vậy, ông Đặng Đức Q, sinh năm 1960 ở thôn CH, xã Đông L ở gần đó cùng đuổi theo P. Khi P đạp xe đi ra đến đường vành đai 4, đoạn thuộc địa phận thôn CH, xã Đông L thì bị anh T và ông Q đuổi kịp chặn đầu xe. P bỏ lại xe đạp chạy bộ trốn thoát. Anh T đem chiếc xe đạp về trả cho bà H.
Ngày 20/9/2022, bà H có đơn trình báo đến Công an xã Đông L và giao nộp chiếc xe đạp phục vụ việc định giá tài sản (bút lục 64- 66). Cùng ngày, Trần Văn P đã đến Công an xã Đông L đầu thú (bút lục 80- 81).
Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL- HĐĐG ngày 29/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: “Chiếc xe đạp; Loại xe: Nữ; Màu sơn: Xanh lá mạ; Xe đã cũ, sơn đã bị bong tróc có giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo biết mình đã sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự Xử:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 06 đến 08 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 26/12/2022
2.Về vật chứng của vụ án: Không
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của Bị hại; người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 20/9/2022, tại thôn Khoát, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Trần Văn P đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe đạp trị giá 100.000 đồng của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954 ở thôn Hưng Đạo, xã Đông L, huyện Hiệp Hòa. Bản thân Trần Văn P là người có tiền án về tội “Cướp giật tài sản”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo là người có tiền án chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội, trong thời gian được tại ngoại bị cáo lại thực hiện hành vi “ Trộm cắp tài sản đã bị UBND xã Đông L xử phạt hành chính, chứng tỏ bị cáo là con người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Từ những nhận định trên đây, thấy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Đối với vật chứng của vụ án:
Đối với Chiếc xe đạp; Loại xe: Nữ; Màu sơn: Xanh lá mạ; Xe đã cũ, sơn đã bị bong tróc là tài sản của bà H, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho bà H là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự Xử:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn P 08 (Tám) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/12/2022.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 NQ 326 Điều 23 NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự ./
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Sơ tư pháp tỉnh Bắc Giang; - CQĐT,CQTHAHS CA huyện Hiệp Hòa; - THADS huyện Hiệp Hòa; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Đông L, h.Hiệp Hòa. T. Bắc Giang; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thanh Thuần |