vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 18/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về áp dụng điều luật và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Ph 09 (Chín) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 20/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày 18-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Hà Ph, sinh ngày 18/7/1976, tại Trà Vinh; nơi cư trú: khóm N, phường 4, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1943 và bà Hà Thị Hoàng O, sinh năm 1946; anh chị em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1971; vợ: Chưa có; nhân thân: Không tốt.

- Tiền sự: không.

- Tiền án: Có 02 tiền án.

+ Ngày 29/11/2018, Nguyễn Hà Ph bị Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 13/4/2019.

+ Ngày 06/8/2020, Nguyễn Hà Ph bị Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/10/2021.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Bị hại: Ông Sơn Mi Đ, sinh năm 1976, ngụ ấp ĐH, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1943; Địa chỉ: khóm N, phường 4, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 20/10/2022, Nguyễn Hà Ph điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 84D1-097.85 đi trên Quốc lộ 53 hướng từ thành phố Trà Vinh đi huyện Cầu Ngang để đến nhà của người chị. Khi Ph điều khiển xe ngang cửa hàng sửa chữa máy cày của ông Sơn Mi Đ, ngụ ấp ĐH, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thì Ph thấy thanh sắt loại sắt chữ V để bên trong rào cửa hàng, không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy thanh sắt trên bán lấy tiền đổ xăng xe vì xe lúc này sắp hết xăng. Ph quay xe lại rồi dừng xe lại dựng trước cửa hàng của ông Mi Đ; Ph lại hàng rào chòm người vào rào lấy thanh sắt đem ra định để lên xe chạy đi thì ông Mi Đ lúc này đang ngồi uống nước tại quán nước đối diện cửa hàng sửa chữa máy cày của mình phát hiện, chạy đến giữ Ph lại và trình báo Công an xã H đến giải quyết.

Công an xã H đã lập biên bản sự việc và tạm giữ 01 thanh kim loại (loại sắt chữ V) đã qua sử dụng mà Ph lấy trộm của ông Sơn Mi Đ cùng xe mô tô hai bánh biển số 84D1-097.85. Qua kiểm tra thanh kim loại (loại sắt chữ V), chiều dài 1,1 mét, có trọng lượng 10kg.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-ĐGTS ngày 25/11/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận: 01 (một) thanh kim loại (loại sắt chữ V) có trọng lượng 10kg với tổng số tiền là 60.000 đồng.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 05/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hà Ph về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hà Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung quyết định đã truy tố. Bị cáo thừa nhận lời khai, trình bày tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không bị cơ quan điều tra ép cung, dùng nhục hình đối với bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phương không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hà Ph thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội chưa gây thiệt hại và thiệt hại không lớn, có cha tham gia cách mạng được tặng Giấy khen, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thuộc các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Ph từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời gian tính từ ngày 20/12/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo lấy trộm đã được giao trả cho bị hại nên không xem xét.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị trả lại cho Nguyễn Văn N: 01 xe mô tô biển số 84D1097.85, số máy: JF27E1421574, số khung: RLHJF2700BY498659.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hà Ph thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không phát biểu tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tài sản bị cáo Nguyễn Hà Ph lấy trộm dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo có 02 tiền án như đã nêu ở phần lý lịch chưa được xóa án tích nên hành vi của Nguyễn Hà Ph cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phân tích hành vi phạm tội của bị cáo; giữ nguyên Quyết định đã truy tố bị cáo, kết luận và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai đối với bị cáo.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Nguyễn Hà Ph thể hiện tính trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho mọi người trong việc quản lý tài sản, không an tâm trong sinh hoạt, lao động sản xuất.

Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt, bị cáo Nguyễn Hà Ph có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Bản thân bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, bị chấp hành án, được giáo dục, cải tạo nhưng bản thân không thấy được hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để khắc phục, sửa chữa trở thành công dân tốt, vẫn tánh nào tật đó lợi dụng sự quản lý lỏng lẽo về tài sản của chủ sở hữu, bị cáo lấy trộm tài sản với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi đó thể hiện bị cáo là thành phần khó giáo dục, không biết sửa đổi bản thân để trở thành công dân tốt. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức biết được lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo Nguyễn Hà Ph ra khỏi xã hội và cho bị cáo một mức án có thời hạn theo như quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hà Ph không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân không tốt. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo lấy trộm giá trị không lớn, được thu hồi giao trả lại cho người bị hại; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hà Ph thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha ruột là người có công với nước, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo Ph lấy trộm được thu hồi và giao trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Xe mô tô biển số 84D1-097.85, số máy: JF27E1421574, số khung: RLHJF2700BY498659 qua điều tra làm rõ là tài sản của gia đình bị cáo, do ông Nguyễn Văn N là cha ruột của bị cáo mua, nhưng giao cho bị cáo đứng tên, việc bị cáo Ph sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản ông không biết nên Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát giao trả xe mô tô biển số 84D1-097.85 lại cho Nguyễn Văn N.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hà Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Ph 09 (Chín) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 20/12/2022.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên trả cho ông Nguyễn Văn N 01 mô tô hai bánh biển số 84D1-097.85, số máy: JF27E1421574, số khung: RLHJF2700BY498659.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hà Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ