vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Lão, tỉnh Bình Định Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chế Thị S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Chế Thị S 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án 17/01/2023. Giao người được hưởng án treo Chế Thị S cho Uỷ ban nhân dân xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chế Thị Sen - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chế Thị S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
TỈNH BÌNH ĐỊNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST.
Ngày: 17 - 01 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Giàu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hoàng Hiền.

Bà Lê Thị Thanh Trầm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Nghị, thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Hồ Chí Trường, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2022/TLST-HS, ngày 28/10/2022, theoquyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2022/QĐXXST-HS, ngày 14/12/2022, đối với bị cáo:

CHẾ THỊ S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (Không xác định) và bà Chế Thị S1; có chồng và 02 con; tiền án: chưa; tiền sự: không; về nhân thân: tốt. Bị cáo tại ngoại “Có mặt”.

- Bị hại: Nguyễn Thị T, 70 tuổi; nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.“ Có mặt”.

- Người làm chứng:

1. Bà: Nguyễn Thị H, 51 tuổi; nơi cư trú: thôn T, xã Â, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. “Có mặt”

2. Ông: Phạm Ngọc T, 44 tuổi; nơi cư trú: thôn T, xã Â, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. “Có mặt”

3. Ông: Lê Th, 69 tuổi; nơi cư trú: thôn T, xã Â, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hộ gia đình bà Nguyễn Thị T, ông Lê Th và hộ gia đình bà Chế Thị S, ông Phạm Ngọc T đang làm rẫy khai hoang tục danh Đá Hàm thuộc thôn Vạn Xuân, xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Giữa hai hộ gia đình có mâu thuẫn trong việc phân định ranh giới đất rẫy.

Vào khoảng 08 giờ ngày 15/5/2022, bà T, ông Th cùng bà Nguyễn Thị H lên rẫy để trỉa đậu. Vợ chồng ông T, bà S cũng đi lên rẫy để phát dọn. Bà S dùng rựa lên chặt số cây keo con mà bà S cho rằng bà T trồng lấn qua phần đất của mình. Bà H thấy bà S đang chặt keo nên nói cho bà T biết. Bà T chạy xuống vị trí bà S đang chặt keo. Bà T và bà S lời qua tiếng lại với nhau rồi bà T cầm đá chọi bà S nên bà S bỏ chạy về phía rẫy của bà S. Bà T rượt đuổi theo, vừa rượt bà T vừa cầm đá chọi bà S. Khi chạy đến vị trí giữa rẫy của bà S, cách vị trí bà S đang đứng chặt keo khoảng 20,5 mét, bà S dừng lại thì bà T xông vào sát bà S, bà S quay lại dùng hai tay đẩy bà T ngã ngửa và bà S ngồi đè lên bụng của bà T (hai đầu gối của bà S chạm đất), rồi dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, miệng của bà T gây thương tích. Bà Nguyễn Thị T được đưa đến Trung tâm y tế huyện Hoài Ân để điều trị từ ngày 15/5/2022 đến ngày 17/05/2022, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn để điều trị từ ngày 17/5/2022 đến ngày 23/5/2022. Đến ngày 25/5/2022, bà T trình báo sự việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự hành vi gây thương tích của bà Chế Thị S đối với bà T.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/2022/PY-TgT, ngày 12/7/2022, của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T do thương tích gây nên là 11%.

Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS, ngày 18/10/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố Chế Thị S về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị:

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Chế Thị S phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo: Chế Thị S từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự chỉ chấp nhận yêu cầu của bị hại về số tiền bồi thường có hoá đơn, chứng từ là 5.380.307 đồng; tiền công lao động 8 ngày nằm viện của bà T (220.000đ/ngày); tiền công lao động của người chăm sóc cho bà T tại bệnh viện 8 ngày (250.000đ/ngày); bồi thường tổn thất tinh thần cho bà T từ 10 đến 12 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Ý kiến của bị hại: Bị cáo không ăn năn, hối cải nên đề nghị HĐXX xử theo quy định pháp luật. Về bồi thường thiệt hại đề nghị bị cáo bồi thường các khoản chi có hoá đơn và một số khoản chi thực tế khác theo bản kê mà bị hại yêu cầu, bồi thường tổn thất tinh thần là 20 tháng lương tối thiểu. Tổng cộng là 63.980.307 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đánh người là bị cáo sai, bị cáo thống nhất với hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Riêng về số tiền bồi thường thiệt hại, bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường những khoản tiền có chứng từ, bị cáo không đồng ý bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà thể hiện: Sáng ngày 15/5/2022, xuất phát từ việc tranh chấp đất rẫy, bị cáo Chế Thị S xô ngã bị hại, ngồi lên bụng và dùng tay phải đánh liên tiếp vào vùng mặt của bị hại làm bị hại bất tỉnh phải nhập viện điều trị tại Trung tâm y tế huyện Hoài Ân và chuyển viện đến Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn. Bị hại Nguyễn Thị T bị chấn thương, đau đầu chóng mặt, sưng bầm quanh hai mắt; chấn thương gây sưng bầm môi bên trái, gãy răng R2.2, R2.3; niêm mạc môi trên trái để sẹo lồi (KT 01 x 0,5) cm, sưng bầm hàm dưới trái, chấn thương gây đau nhẹ vùng cổ, đau ngực trái. Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11%. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố bị cáo Chế Thị S về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Xét tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tinh thần và thể chất của bị hại, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có khả năng gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Bị cáo và bị hại là bà con họ hàng, lẽ ra bị cáo phải ngồi lại dàn xếp ranh đất, hoặc làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, thế nhưng bị cáo không nhờ chính quyền can thiệp, mà lại vào rẫy nhổ keo của bị hại, xô ngã, ngồi lên bụng và dùng tay phải đánh vào vùng mặt của bị hại, chứng tỏ bị cáo xem nhẹ sức khỏe của người khác và xem thường pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, đã tự nguyện nộp 4.000.000 đồng để bồi thường một phần thiệt hại. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS mà bị cáo được hưởng. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy cần thiết xử bị cáo mức án có lý, có tình để thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị báo, để tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện và việc đấu tranh và phòng, chống tội phạm trên địa bàn huyện, lẽ ra bị cáo phải bị cách ly khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên xét bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo như: Có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; Xét bị cáo nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, từ khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi phạm tội cho đến nay bị cáo không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chấp hành tốt các quy định của pháp luật và thực hiện nghiêm các lần triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó HĐXX nghĩ cho bị cáo cơ hội để tự cải tạo, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại: tiền viện phí ở Trung tâm y tế huyện Hoài Ân 130.781 đồng, tiền mua thuốc ở Trung tâm y tế huyện Hoài Ân 750.000 đồng; tiền viện phí ở bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn 410.746 đồng, tiền mua thuốc ở Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn 850.000 đồng; chi phí giám định 1.215.000 đồng; tiền khám mắt 118.200 đồng; tiền chụp mắt 30.500 đồng; chụp chiếu răng mặt ở Phòng khám Thành Long 640.000 đồng; chụp OCT mắt bác sĩ Triết 700.000 đồng; khám, nhổ răng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định 1.335.080 đồng; thuốc lành chân răng 390.000 đồng, 350.000 đồng; trồng răng tại bác sĩ Ánh (09 cái) 3.600.000 đồng; thuê xe anh Vương 3.200.000 đồng; tiền Taxi cấp cứu từ Trung tâm y tế huyện Hoài Ân đến Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn 250.000 đồng; tiền xe con bị hại đi từ Sài Gòn về 350.000 đồng; tiền công nằm viện (8 ngày + 30 ngày dưỡng bệnh) 8.360.000 đồng; tiền công người nuôi (500.000đ x 8 ngày) 4.000.000 đồng; tiền keo bị cáo chặt 7.500.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 20 tháng lương tối thiểu 29.800.000 đồng. Tổng cộng = 63.980.307 đồng.

Hội đồng xét xử căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: không chấp nhận những khoản bồi thường không có chứng từ hợp lệ và không phù hợp gồm: tiền cây keo bị chặt 7.500.000 đồng, tiền thuê xe anh Vương 3.200.000 đồng, tiền xe con bị hại đi từ Sài Gòn về 350.000 đồng, tiền công người nuôi 500.000đ/ngày (theo giá công lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh), tiền công dưỡng bệnh 30 ngày 6.600.000 đồng (không có chỉ định của Bác sỹ), tiền trồng thêm 05 cái răng khác 2.000.000 đồng.

Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại các khoản chi phí hợp lệ cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ, thu nhập bị mất của người bị thiệt hại và của người chăm sóc trong thời gian điều trị là: Hoá đơn của Trung tâm y tế huyện Hoài Ân 130.781 đồng, đơn thuốc chỉ định của Trung tâm y tế huyện Hoài Ân 750.000 đồng; hoá đơn của bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn 410.746 đồng, đơn thuốc chỉ định của Bệnh viện khu vực Bồng Sơn 850.000 đồng; phiếu thu của Công ty cổ phần Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định 9.080 đồng, 50.000 đồng, 676.000 đồng; phiếu chỉ định cận lâm sàn của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định 600.000 đồng; đơn thuốc của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định390.000 đồng, 350.000 đồng; hoá đơn của bệnh viện Mắt tỉnh Bình Định 30.500 đồng; đơn thuốc của Bác sỹ Triết 700.000 đồng, 118.200 đồng; phiếu thu của phòng khám đa khoa Thành Long 640.000 đồng; phiếu thu của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định 680.000 đồng; hoá đơn của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định 535.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại nằm viện (220.000 đ/ngày x 08 ngày) 1.760.000 đồng; tiền công người nuôi (250.000 đ/ngày x 8 ngày) 2.000.000 đồng; xe chuyển viện từ Trung tâm y tế huyện Hoài Ân đến Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn 250.000 đồng; tiền trồng răng 04 cái (02 cái gãy và 02 cái hai bên) x 400.000 đồng = 1.600.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 15 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định 1.490.000 đồng/tháng = 22.350.000 đồng. Tổng cộng = 34.880.307 đồng. Bị cáo đã giao cho bị hại nhận 4.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 30.880.307 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.544.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chế Thị S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Xử phạt: Bị cáo Chế Thị S 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án 17/01/2023.

Giao người được hưởng án treo Chế Thị S cho Uỷ ban nhân dân xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Chế Thị S bồi thường thiệt hại do sức khỏe của bị hại Nguyễn Thị T bị xâm phạm số tiền là 34.880.307 đồng.Bị cáo đã bồi thường 4.000.000 đồng. Bị cáo còn phải nộp tiếp 30.880.307 đồng (Ba mươi triệu tám trăm tám mươi nghìn ba trăm lẻ bảy đồng)

4. Về án phí:

4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chế Thị S phải nộp 200.000 đồng.

4.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Chế Thị S phải nộp 1.544.000đồng.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày17/01/2023).

6. Quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

6.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ