- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ Trần Thị Minh - Đoàn Tấn Đỡ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị M. Xử chị Trần Thị M được ly hôn với anh Đoàn Tấn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ - ST Ngày: 08/02/2023 "V/v Kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Sỹ Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Dũng
2. Ông Nguyễn Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 08/02/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2022/TLST - HNGĐ ngày 15/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXX - ST ngày 20/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST - HNGĐ ngày 10/01/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M - Sinh ngày: 01/02/1978 (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Đoàn Tấn Đ - Sinh ngày: 30/5/1981 (vắng mặt).
Đều trú tại: Số nhà 10, ngõ 21, đường Phan Đình Phùng, tổ dân phố 5, phường N, thị xã H, tỉnh T.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 09/10/2022 và bản tự khai ngày 02/12/2022 nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày như sau: Giữa nguyên đơn và bị đơn anh Đoàn Tấn Đ đăng ký kết hôn ngày 13/3/2006, tại UBND phường N, thị xã H, tỉnh T. Đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc, hôn lễ được tổ chức theo truyền thống địa phương và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới chị M và anh Đ về sống với nhau hạnh phúc được hơn mười năm thì xảy ra mâu thuẫn, thời điểm chị M làm đơn ra Tòa xin ly hôn với anh Đ thì hai người đã sống ly thân với nhau. Theo chị M trong cuộc sống giữa chị và anh có nhiều quan điểm sống khác nhau, anh Đ không tôn trọng tôi đã nhiều lần đánh đập tôi, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Sự việc của anh chị đã được gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không đi đến kết quả gì. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn chị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Tấn Đ.
Về con chung: Chị Trần Thị M trình bày chị và anh Đ có 02 con chung cháu Đoàn Minh S, sinh ngày 24/11/2006 và cháu Đoàn Mạnh L sinh ngày 09/10/2009; từ nhỏ sống với vợ chồng, hiện tại đang sống cùng chị M, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị M vẫn giữ nguyên quan điểm và có nguyện vọng là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu Đoàn Minh S và Đoàn Mạnh L và không yêu cầu anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hai vợ chồng không nợ ai và ngược lại.
Theo quy định của pháp luật, Tòa án đã Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo và ấn định thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về các nội dung của vụ án, nhưng tại tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chị M có mặt, anh Đ vắng mặt mặc dù cán bộ Tòa án đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ, anh Đ đã đọc các văn bản bản tố tụng của Tòa song không nhận và không ký vào biên bản giao nhận, Tòa án đã lập biên bản về việc không giao được, sau đó niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, vì vậy phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không tiến hành được, nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lưu vào hồ sơ để có căn cứ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Việc chị M làm đơn xin được ly hôn với anh Đ là thuộc quyền của công dân được pháp luật quy định, chị M đã cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc khởi kiện của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn khởi kiện của chị M có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi đương sự cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên nhân dẫn đến việc chị M làm đơn xin ly hôn là hai người có quan điểm sống khác nhau, không có sự bình đẳng trong cuộc sống, anh Đ không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không có sự bình đẳng trong cuộc sống, lại thường xuyên đánh đập chị M. Khi sự việc đó xảy ra gia đình anh em nội ngoại đã hòa giải cũng như khuyên bảo nhưng không có kết quả, trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, chị M vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là xin được ly hôn với anh Đ. HĐXX thấy rằng chị M và anh Đ sống ly thân với nhau đã một thời gian khá dài từ tháng 5 năm 2022 đến nay, giữa hai người không còn tình cảm, nếu sống với nhau chỉ là hình thức không có hạnh phúc thực sự, hôn nhân không thể đạt được nên hạnh phúc không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, việc hai vợ chồng có tiếng nói chung, trở về đoàn tụ với nhau là không thể. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị M đối với anh Đ. Điều đó phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu Đoàn Minh S, sinh ngày 24/11/2006 và cháu Đoàn Mạnh L sinh ngày 09/10/2009 và không yêu cầu anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M. HĐXX thấy rằng hai cháu Đoàn Minh S và cháu Đoàn Mạnh L lâu nay sống cùng chị M, hiện tại cũng đang ở với chị M, cuộc sống sinh hoạt của hai cháu đang ổn định, việc xáo trộn nếp sống, sinh hoạt và học hành của hai cháu là không nên, từ nhỏ tới lớn hai cháu ở với nhau, tình cảm anh em hết sức hòa thuận, việc chia cắt tình cảm của các cháu rất ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của hai cháu, bên cạnh đó hai cháu có đơn nguyện vọng là xin được ở với mẹ. Anh Đ không sống chung với các cháu, lại là lao động tự do nay đây mai đó, thu nhập không ổn định, việc anh Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con cái là hết sức hạn chế. Chị M tuy không phải là cán bộ công nhân viên nhà nước nhưng hiện tại chị M kinh doanh mặt hàng ăn uống có thu nhập ổn định hàng tháng, có thời gian chăm sóc con cái, việc hai cháu ở với chị M sẽ tốt hơn cho sự phát triển và học hành của các cháu. Nên giao cháu Đoàn Minh S và cháu Đoàn Mạnh L cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở, điều đó phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị M không yêu cầu anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M. HĐXX thấy rằng ý kiến của chị M là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, khả năng về kinh tế của chị M đảm bảo cho việc nuôi con. Nên HĐXX chấp nhận ý kiến đó của chị M.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ, anh Đ đã gặp cán bộ Tòa án trực tiếp tống đạt văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ không nhận, vì vậy Tòa án lập biên bản về việc không tống đạt được và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 20 tháng 12 năm 2022 Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 20/12/2022, ấn định thời gian mở phiên Tòa vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 10/01/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh. Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt cho anh Đ nhưng anh Đ không nhận, Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và sau đó tiến hành niêm yết tại tổ dân phố 5 và trụ sở UBND phường N, thị xã H, tỉnh T. Đến ngày giờ địa điểm như trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã nêu, phiên Tòa được diễn ra, tại phiên Tòa chị M có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do vì vậy HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, điều đó phù hợp và được quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST - HNGĐ, ngày 10/01/2023 và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 08/02/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi ban hành Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án đã tống đạt cho anh Đ nhưng anh Đ không nhận. Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được và sau đó tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa tại tổ dân phố 5 và trụ sở UBND phường N, thị xã H, tỉnh T. Tại phiên Tòa hôm nay, chị M có mặt, anh Đ tiếp tục vắng mặt vì vậy HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Đ.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Về án phí: Buộc chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị M. Xử chị Trần Thị M được ly hôn với anh Đoàn Tấn Đ.
2. Về con chung: Căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình: Giao cháu Đoàn Minh S, sinh ngày 24/11/2006 và cháu Đoàn Mạnh L, sinh ngày 09/10/2009 cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đoàn Tấn Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Thị M. Anh Đoàn Tấn Đ có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Trần Thị M phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, chị M đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004328 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đoàn Tấn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - - VKSND TX Hồng Lĩnh; - - CCTHADS TX Hồng Lĩnh; - - Nguyên đơn, bị đơn; - - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Sỹ Nam |