vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị L. Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ông Văn N.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Anh Ông Văn N được quyền thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị L. Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ông Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ B
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Dung

2. Ông Nguyễn Thanh Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Hùng Phong- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1983 (Có mặt)

Bị đơn: Anh Ông Văn N, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 07, ấp T, xã K, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/9/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Chị L và anh N sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 12/4/2005 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và đều kết hôn lần đầu

Sau khi hết hôn chị L và anh N cùng chuyển vào tổ 07, ấp T, xã K, thị xã B, tỉnh Bình Phước chung sống với nhau.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 17 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hay xảy ra cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau, có nhiều quan điểm không thống nhất trong vấn đề làm ăn kinh tế, anh N hay đi làm xa, dẫn đến rạn nứt hạnh phúc, anh chị đã ly thân với nhau từ đầu năm 2022, anh N hiện đã bỏ ra ngoài sinh sống. Nay chị L thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên làm đơn xin ly hôn với anh Ông Văn N.

Quá trình chung sống chị L và anh N có 02 con chung tên Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011. Từ khi chị L và anh N sống ly thân, 02 con đều do chị L chăm sóc và nuôi dưỡng, anh N không hỗ trợ hay giúp đỡ chị L trong vấn đề nuôi dưỡng chăm sóc con, sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, chị cũng tôn trọng nguyện vọng của 02 con về việc muốn sống chung với mẹ hay với bố.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, bị đơn anh Ông Văn N vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đại hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập anh N làm việc, viết bản tự khai trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình để làm có cơ sở giải quyết vụ án nhưng anh N không thực hiện, không có ý kiến trình bày.

Biên bản xác minh ngày 17/10/2022, tại ấp T, xã K, thị xã B, xác định: Anh N có địa chỉ cư trú, sinh sống tại địa chỉ tổ 07, ấp T, xã K, thị xã B. Về tình trạng hôn nhân: Do anh N không lo làm ăn, nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn, giao 02 con chung tên Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Ông Văn N có nơi cư trú tại: Tổ 07, ấp T, xã K, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Anh Ông Văn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Ông Văn N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 12/4/2005 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, theo đúng quy định pháp luật, nên hôn nhân của chị L và anh N là hợp pháp, đúng quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy, chị Hoàng Thị L và anh Ông Văn N kết hôn với nhau nhằm mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng quá trình chung sống anh, chị bất đồng quan điểm không còn thương yêu nhau, quan tâm, trách nhiệm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã sống ly thân được 01 năm, hiện anh N đi làm xa, không sống chung với chị L, nay chị L không muốn hàn gắn gia đình mà yêu cầu ly hôn với anh N để ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị L, cho chị Hoàng Thị L ly hôn với anh Ông Văn N.

Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị L có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung tên Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011, nhận thấy từ khi chị L và anh N ly thân, 02 cháu G và T do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến nay, chị L có công việc, có thu nhập; đồng thời, 02 con chung của chị L và anh N đều có nguyện vọng được ở với chị L nếu cha mẹ ly hôn. Xét quyền lợi chính đáng về mọi mặt của con, 02 cháu là con gái chị L nuôi dưỡng là phù hợp hơn anh Ông Văn N và phù hợp theo quy định của pháp luật tại các Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao 02 con chung Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị L. Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Ông Văn N.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Ông Thị Hương G, sinh ngày 10/11/2007 và Ông Hoàng Thủy T, sinh ngày 08/10/2011 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ông Văn N được quyền thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002803 ngày 27/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ