- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ánh H- Trần Đăng Á"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ánh H
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 03/01/2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Đình Hoằng
2. Bà Doãn Thị Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 717/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ánh H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 6, phường P Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).
2- Bị đơn: Anh Trần Đăng A, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ 13, phường H P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Ánh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đăng A tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh A thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Do mâu thuẫn căng thẳng chị và anh A đã sống ly thân, không ai quan tâm và trách nhiệm gì với nhau. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài và thực sự trầm trọng, tình cảm giữa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Đăng A.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Trần Đăng A có hai con chung là Trần Đăng Đức T, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Đăng Thiện N, sinh ngày 30/5/2020. Các con hiện đang ở với chị, ly hôn chị H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị tự thỏa thuận với anh A, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này.
Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 08/11/2022, bị đơn là anh Trần Đăng A trình bày:
Anh Trần Đăng A thống nhất như lời trình bày của chị Trần Thị Ánh H về hôn nhân, về thời gian đăng ký kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, về con chung, về tài sản chung và nghĩa vụ chung. Trong quá trình chung sống với nhau, giữa anh và chị H xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn như chị H trình bày, nay chị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý vì tình cảm vợ chồng đã thật sự mất hạnh phúc, thời gian anh chị sống ly thân, chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên anh tự nguyện giao chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn anh tự thỏa thuận với chị H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay anh đang bị tạm giam anh không thể có mặt tại Tòa án, do đó anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng;
Về tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Đảm bảo theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án và hướng giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Chị Trần Thị Ánh H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con với anh Trần Đăng A theo quy định của pháp luật. Đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ánh H được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý, xem xét. Anh Trần Đăng A cư trú tại thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Đăng A có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt; anh Trần Đăng A không tham gia hòa giải; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; không tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ánh H và anh Trần Đăng A tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H P, thành phố P, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 10 tháng 5 năm 2012. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Trần Thị Ánh H và anh Trần Đăng A là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Ánh H thì thấy rằng, trong thời gian chung sống giữa chị và anh Trần Đăng A xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xảy ra cải vả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh A sống ly thân, giữa chị và anh A không ai quan tâm và trách nhiệm gì với nhau.
Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nhưng chị Trần Thị Ánh H vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Đăng A. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Đăng A cũng đồng ý ly hôn với chị H, tuy nhiên anh không đến Tòa để tham gia tố tụng và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được nên chị Trần Thị Ánh H yêu cầu được ly hôn với anh Trần Đăng A là có căn cứ, được chấp nhận.
Về con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân chị Trần Thị Ánh H và anh Trần Đăng A có hai con chung là Trần Đăng Đức T, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Đăng Thiện N, sinh ngày 30/5/2020. Hiện các con chung đang được chị Hồng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh A cũng tự nguyện giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Trần Đăng Đức T có nguyện vọng được sống chung với chị H khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ánh H, giao hai con chung cho chị Trần Thị Ánh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng tự lập được.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Trần Thị Ánh H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không quyết định.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Trần Thị Ánh H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không quyết định.
Về án phí: Chị Trần Thị Ánh H là nguyên đơn, phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 94, 144, 146, 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và các điểm a, b Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ánh H
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ánh Hồng được ly hôn với anh Trần Đăng A.
- Về con chung: Giao con chung là Trần Đăng Đức T, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Đăng Thiện N, sinh ngày 30/5/2020 cho chị Trần Thị Ánh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Thời gian giao nuôi con từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Ánh H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002614 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chị Trần Thị Ánh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP. P;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS TP P ;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND phường H P, TP P,
(Đã ký) tỉnh Gia Lai; (Giấy CNKH số 48/2012 đăng ký ngày 10/5/2012);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. Pleiku;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS Tp Pleiku;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND xã An Phú, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai (Giấy CNKH số 85/2013 Đăng ký ngày 04/9/2013);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. Pleiku;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS Tp Pleiku;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND phường Phù Đổng, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai(Giấy CNKH số 19/2018 ngày 17-3-2018);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ PLEIKU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH GIA LAI
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tô Thị Lành
2. Bà Doãn Thị Lệ
Căn cứ Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Hội đồng xét xử tiến hành thảo luận về việc xét xử, hoãn phiên tòa đối với vụ án dân sự thụ lý số 430/2019/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” giữa:
Nguyên đơn: Chị Võ Trình Mỹ Duyên, sinh ngày 27-8-1993
Địa chỉ: 65 Lê Lợi, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Anh Lê Văn Quang, sinh ngày 07-9-1996
Địa chỉ: 66/6 Lý Chính Thắng, tổ 3, phường Chi Lăng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Ý kiến của Hội thẩm nhân dân 1: Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho các đương sự trong vụ án đến tham gia tố tụng tại phiên tòa công khai vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019.
Tuy nhiên đến lúc này đã 14 giờ 00 phút ngày 04-9-2019, bị đơn anh Lê Văn Quang vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất. Để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn, cần phải hoãn phiên tòa.
Ý kiến hội thẩm thứ hai và chủ tọa phiên tòa nhất trí với ý kiến của Hội thẩm thứ nhất.
Hội đồng xét xử biểu quyết nhất trí hoãn phiên tòa, kết quả biểu quyết: 3/3.
Việc thảo luận kết thúc hồi 14 giờ 10 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019. Đã lập thành biên bản và các thành viên Hội đồng xét xử thống nhất ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku; - Các đương sự; - UBND xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nhàn |