vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Vũ Thị H; chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Chiến T.

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Chiến T không phải cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Hồng ly hôn Nguyễn Chiến Thắng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Vũ Thị H; chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Chiến T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05/01/2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Chiến và ông Lại Văn Bảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hải – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lã Hải Long – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 126/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1999.

Nơi đăng ký cư trú: Thôn 1, xã Q, huyện H1, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi ở: Thôn 6, xã Q2, huyện H1, tỉnh Quảng Ninh.

Nghề nghiệp: Nghề tự do; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chiến T, sinh năm 1993.

Nơi đăng ký cư trú: Thôn 1, xã Q, huyện H1, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi tạm trú: Tổ 2, khu 7B, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Nghề nghiệp: Công nhân Công ty cổ phần than C1; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 07/10/2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H đều trình bày:

Tôi với anh Nguyễn Chiến T kết hôn hợp pháp vào tháng 10 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau 03 tháng.

Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi chung sống cùng gia đình chồng tại tổ 2 khu 7B phường C, thành phố Cẩm Phả, vợ chồng sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chúng tôi bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã. Ngoài ra tôi còn mâu thuẫn với mẹ chồng, chị chồng, mặc dù cả hai chúng tôi đã cố gắng nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện và ngày càng trầm trọng; do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng tôi đã nhiều lần đưa con về gia đình nhà ngoại ở nhưng vì thương con, được anh T động viên thuyết phục nên tôi lại trở về chung sống cùng anh, nhưng chẳng được bao lâu thì mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp diễn và ngày càng trầm trọng hơn, do không thể chịu được nên cuối tháng 9/2022 vợ chồng sống ly thân, tôi đưa con về huyện H1, lúc đầu mẹ con tôi sống cùng gia đình ngoại, được thời gian ngắn sau đó mẹ con tôi sống tại nhà riêng tại xã Q2, huyện H1 cho đến nay, từ khi vợ chồng sống ly thân chúng tôi không còn quan tâm đến nhau nữa, nay tôi nhận thấy không còn lòng tin ở anh T, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chiến T.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019; con chung sống cùng tôi từ khi vợ chồng sống ly thân, khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Thu nhập của tôi trung bình từ 15.000.000 đồng - 30.000.000 đồng/tháng. Tôi đảm bảo đủ điều kiện nuôi con và nuôi dạy con chung tốt.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Chiến T trình bày: tôi và chị Vũ Thị H kết hôn hợp pháp vào ngày 23/10/2018 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, trước khi kết hôn chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau 03 tháng, sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống cùng gia đình nội tại địa chỉ tổ 2, khu 7B phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vợ chồng sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mâu thuẫn giữa chị tôi và mẹ tôi với vợ, từ đó vợ chồng tôi phát sinh bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù chúng tôi đã cố gắng hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, từ cuối tháng 9/2022 vợ tôi bỏ về gia đình ngoại chúng tôi sống ly thân từ đó, nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên tôi đồng ý ly hôn với chị Vũ Thị H.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019; từ khi vợ chồng sống ly thân con chung sống cùng vợ tôi, nay vợ chồng ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con; thu nhập của tôi trung bình từ 10.000.000 đồng - 12.000.000 đồng/tháng tôi đảm bảo đủ điều kiện nuôi dạy con chung tốt.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu đề cập giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Nguyễn Chiến T thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị H; Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H với anh Nguyễn Chiến T; Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Chiến T không phải cấp dưỡng cho con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Vũ Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Chiến T hiện cư trú tại địa bàn thành phố Cẩm Phả nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Chiến T là hôn nhân hợp pháp, hai anh chị kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn hai anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 3 tháng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà chồng và sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H chung sống không hòa hợp được với gia đình nhà chồng, chị H với mẹ chồng và chị gái chồng bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn nhiều lần xảy ra cãi chửi nhau, do mâu thuẫn căng thẳng, trầm trọng nên nhiều lần chị H đã bỏ về gia đình ngoại ở, lần cuối từ cuối tháng 9/2022 chị H dẫn con về gia đình ngoại vợ chồng sống ly thân cho đến nay, nay chị H xin được ly hôn, xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H là có căn cứ, theo quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H, chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Chiến T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị H và anh T có một con chung là Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019; khi ly hôn hai anh chị đều có yêu cầu được nuôi con chung, đều cam kết đảm bảo nuôi dạy con chung tốt. Về yêu cầu nuôi con chung của cả hai anh chị là chính đáng, chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Chiến T đều đủ điều kiện để nuôi con song từ cuối tháng 9/2022 cho đến nay chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, theo học tại trường Mầm non HH nơi cháu Quỳnh T1 học tập về sức khỏe, tâm lý của cháu Trang là tốt (BL 32); tại Văn bản có xác nhận của Công an xã Q, huyện H1 thể hiện nội dung: chị Vũ Thị H sống tại địa phương chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Giấy khám sức khỏe của Trung tâm y tế huyện H1 xác nhận: cháu Nguyễn Quỳnh T1 hiện tại khỏe mạnh (BL42); xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án và điều kiện hoàn cảnh của mỗi đương sự xét thấy cần thiết giao con chung Nguyễn Quỳnh T1 cho chị Vũ Thị H nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H và anh T đều xác định không có nên không đề cập.

Về án phí: Chị Vũ Thị H nhất trí chịu án phí ly hôn theo quy định.

Quyền kháng cáo: chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Chiến T có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Vũ Thị H; chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Chiến T.

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quỳnh T1, sinh ngày 22/5/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Chiến T không phải cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Chiến T đều xác định không có nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005253 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ