- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị T - Bùi Văn V"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 05-01-2023 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nụ.
2. Bà Bùi Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T - Sinh năm 1998.
ĐKHK: Thôn ĐCN, xã ĐM, huyện TH, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Số X, ngõ Y, đường TV, TL, thành phố Đào Viên, Đài Loan.
* Bị Đơn:
Anh Bùi Văn V - Sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn ĐCN, xã ĐM, huyện TH, tỉnh Thái Bình.
(Chị T, anh V có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn xin ly hôn; Bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Nguyên đơn
- chị Đặng Thị T trình bày: Chị và anh Bùi Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện TH, tỉnh Thái Bình ngày 14/12/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hai tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do phong cách sống không phù hợp, thường xuyên xảy ra va chạm nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù hai bên đã tìm biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng không thành. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn V.
Chị và anh Bùi Văn V không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên chị không thể tham gia tố tụng tại tòa án, chị có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
* Tại Bản tự khai; Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; Bị đơn - anh Bùi Văn V trình bày: Anh và chị Đặng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện TH, tỉnh Thái Bình ngày 14/12/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 31/12/2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do phong cách sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể tìm được tiếng nói chung, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh đồng ý.
Sau khi kết hôn, anh và chị Đặng Thị T chưa có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do công việc anh không thể tham gia tố tụng tại tòa án, anh có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Bùi Văn V.
- Về quan hệ con chung và tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Chị Đặng Thị T và anh Bùi Văn V có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Bùi Văn V kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 14/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện TH, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung, hai bên đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và sống ly thân tự lo liệu cuộc sống riêng không quan tâm đến nhau từ cuối tháng 12/2020. Nay chị T xin ly hôn, anh V đồng ý thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân giữa các đương sự không đạt được, vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Bùi Văn V là phù hợp pháp luật.
Về con chung: Chị Đặng Thị T và anh Bùi Văn V không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Đặng Thị T và anh Bùi Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, vì vậy không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Bùi Văn V.
2. Về quan hệ con chung và tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Đặng Thị T nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0005460 ngày 05/10/2022 (do bà Chu Thị L nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đặng Thị T, anh Bùi Văn V. Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cục THADS tỉnh Thái Bình; - UBND xã ĐM. h. TH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Phương Thảo |