vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 06/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Ngô Thanh B. Về con chung: Giao con chung Ngô Đăng D, sinh ngày 21-04-2018 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2023/HNGĐ-ST
Ngày 06-01-2023
V/v ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng,

Ông Hoàng Hào.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân -Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 73/2022/QĐ-ST ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H; sinh năm 1996; đăng ký hộ khẩu: Thôn Đ Thịnh, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Tiểu khu Bó Bun, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Bị đơn: Anh Ngô Thanh B; sinh năm 1994; đăng ký hộ khẩu: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định; hiện đang cư trú tại Nhật Bản.

Tại phiên tòa: Anh B, chị H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Đinh Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Ngô Thanh B trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 10 năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định. Sau khi, kết hôn vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ chồng và chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B thường xuyên đánh đập, chửi bới nên chị đã bế con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Đến tháng 06 năm 2019 anh B đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản và từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc, do xa cách nên vợ chồng càng ít nói chuyện với nhau và không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2018 hiện tại đang ở cùng với chị và ông bà ngoại. Nay vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời trình bày và quan điểm như tại đơn khởi kiện và bản tự khai.

* Đối với bị đơn anh Ngô Thanh B: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc tiếp cận công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa cho anh B thông qua bà Nguyễn Thị Minh N (là mẹ đẻ của anh B) và yêu cầu bà N thông báo cho anh B về các văn bản của Tòa án đồng thời yêu cầu anh B trình bày quan điểm bằng văn bản về việc chị H xin ly hôn và cung cấp địa chỉ cụ thể của anh B tại Nhật Bản gửi về cho Tòa án, nhưng anh B không có văn bản trình bày quan điểm về việc chị H xin ly hôn và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Bà Nguyễn Thị Minh N là mẹ đẻ của anh Ngô Thanh B trình bày: Anh Ngô Thanh B là con đẻ của bà, hiện nay anh B đang lao động xuất khẩu tại nước Nhật Bản nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể nơi ở, nơi làm việc của anh B. Từ khi anh B đi lao động xuất khẩu giữa gia đình bà và anh B thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội Zalo và Facebook. Trước khi, anh B đi Nhật Bản đã kết hôn với chị Đinh Thị H vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2018 hiện tại đang ở cùng với chị H và ông bà ngoại.

Bà đã nhận thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và bà đã thông báo cho anh B bằng mạng xã hội là Zalo, điện thoại về việc chị H xin ly hôn và bà cũng thông báo cho cho anh B viết quan điểm trình bày về việc chị H xin ly hôn gửi về cho Tòa án tỉnh Nam Định, nhưng anh B có trả lời là vì lý do công việc bận rộn nên anh B không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn được và cũng không viết được bản tự khai; đồng thời anh B cũng nói với bà việc chị H xin ly hôn anh cũng nhất trí; về con chung, anh B nhất trí giao 01 con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21-4-2018 cho chị H nuôi dưỡng và anh B không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung, khi anh B về Việt Nam thì giữa anh và chị H sẽ tự giải quyết.

Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y cung cấp: Anh Ngô Thanh B và chị Đinh Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 10 năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống anh B và chị H có 01 con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2018 hiện nay con chung đang ở với chị H tại gia đình ông bà ngoại. Quá trình chung sống anh B và chị H có mâu thuẫn nhưng không có đơn đề nghị cơ sở xóm và Uỷ ban nhân dân xã hòa giải đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị H không cung cấp được địa chỉ của bị đơn là anh B tại nước Nhật Bản, thông qua thân nhân xác định anh B vẫn liên lạc với gia đình tại Việt Nam nhưng gia đình anh B không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh B tại Nhật Bản cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản văn bản tố tụng thông qua thân nhân của anh B và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Ngô Thanh B. Về con chung: Giao con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2018 cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu Dương trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được; anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Chị Đinh Thị H xin ly hôn anh Ngô Thanh B hiện đang cư trú tại nước Nhật Bản, nhưng chị H không cung cấp được địa chỉ nơi ở, nơi làm việc của anh B. Thông qua thân nhân là bà Nguyễn Thị Minh N (mẹ đẻ anh B) xác định anh B vẫn liên lạc với gia đình bằng điện thoại và qua mạng xã hội, nhưng bà N không cung cấp được địa chỉ nơi ở, nơi làm việc của anh B tại nước Nhật Bản. Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án cho anh B thông qua bà N và yêu cầu bà N thông báo cho anh B viết quan điểm về việc chị H xin ly hôn gửi về cho Tòa án, nhưng anh B không hợp tác.

Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do vậy, Tòa án tiếp tục tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh B thông qua bà N là mẹ đẻ bao gồm: Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa để bà N thông báo cho anh B. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai vào ngày 06 tháng 01 năm 2023 anh B đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh B.

Về nội dung: Chị Đinh Thị H và anh Ngô Thanh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y vào ngày 13 tháng 10 năm 2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn, chị H và con chung đã về nhà mẹ đẻ ở và sau đó anh B đi lao động xuất khẩu tại nước Nhật Bản đến nay chưa về Việt Nam. Do xa cách, vợ chồng không liên lạc với nhau và không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh B không còn và không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho ly hôn giữa chị H và anh B.

Về con chung: Chị H và anh B có 01 con chung là Ngô Đăng D, sinh ngày 21 tháng 04 năm 2018, hiện nay cháu Dương đang ở với chị H. Vợ chồng ly hôn chị H đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay chị H đang nuôi dưỡng cháu Dương còn anh B đang cư trú tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H nuôi dưỡng và anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Ngô Thanh B.

Về con chung: Giao con chung Ngô Đăng D, sinh ngày 21-04-2018 cho

chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Dương trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H.

Anh B có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị H. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được đối trừ với số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006783 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị H vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Anh B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ