vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Lương Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Ngọc Nhật H, sinh ngày 24/6/2019 cho chị Lê Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu H - Lương Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Lương Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05-01-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hằng

Ông Nguyễn Văn Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H; nơi cư trú: Số T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lương Ngọc T; nơi cư trú: Số T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 10 năm 2022, bản tự khai nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lương Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 07/3/2019. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, cách ứng xử giữa hai vợ chồng. Dù đã được gia đình và bạn bè khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị luôn cảm thấy mệt mỏi và ảnh hưởng đến tâm lý. Đến nay chị H không thể chịu đựng được thêm, vợ chồng tình cảm không còn, không phụ thuộc nhau về mặt kinh tế nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Ngọc T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Lương Ngọc Nhật H, sinh ngày 24/6/2019. Ly hôn, anh chị đã thỏa thuận giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Lương Ngọc T trình bày:

Anh xác nhận điều kiện kết hôn, mâu thuẫn như chị H đã trình bày. Anh và chị H đã sống ly thân 02 năm nay, giờ chị H có đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý vì anh chị không còn tình cảm với nhau. Về con chung: Anh chị có 01 con chung như chị H đã trình bày. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, đến năm 2021 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nay anh chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly thân 02 năm nay, không ai phụ thuộc ai về kinh tế nên chị H gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, anh T cũng đồng ý ly hôn. Do vậy, cần xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Lương Ngọc Nhật H, sinh ngày 24/6/2019. Cháu H còn quá nhỏ nên ưu tiên giao cho mẹ chăm sóc, mặt khác anh chị cũng thống nhất khi ly hôn giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống: Năm 2021, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống cũng như trong cuộc sống khiến anh chị luôn mệt mỏi, ảnh hưởng đến tâm lý của vợ chồng. Anh chị đã sống ly thân một thời gian không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế nữa. Nay chị H đề nghị ly hôn anh T đồng ý và anh chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An giải quyết cho anh chị được ly hôn. Hội đồng xét xử nhận định, thực tế chị H và anh T đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Lương Ngọc T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Lương Ngọc Nhật H, sinh ngày 24/6/2019. Xét cháu H còn nhỏ, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh T đồng ý. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung là cháu Lương Ngọc Nhật H cho chị Lê Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết..

Về án phí: Chị Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Lương Ngọc T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Ngọc Nhật H, sinh ngày 24/6/2019 cho chị Lê Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí:

- Chị Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004783 ngày 19 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Lê Thị Thu H và anh Lương Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ