- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Th yêu cầu ly hôn anh L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 5, khoản 1 Điều 6, điểm a kh…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 09 /02 /2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Dũng
Bà Nguyễn Thị Tường Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111 /2022/TLST- HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc "Ly hôn", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST – HNGĐ ngày 13/01/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Th - Sinh năm 1979
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu phố 1, thị trấn L, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
- Bị đơn: Anh Lê Ngọc L - sinh năm 1976.
Nơi ĐKHKTT hiện nay: Khu phố 1, thị trấn L, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2022, bản tự khai ngày 03/11/2022 và quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Th trình bày:
* Về hôn nhân: Chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 12/8/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình và quan điểm sống không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm cãi vã lẫn nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; Từ tháng 02/2022 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau Chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở không quan tâm đến nhau nữa. Nay Chị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn; Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Ngọc L.
* Về con cái: Chị Hà Thị Th có 01 con riêng tên là Hoàng Thị Hồng - Sinh ngày 25/8/2001 Hiện nay cháu đã thành niên. Chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về tài sản, công nợ và các nghĩa vụ khác: Chị Th chưa yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Bị đơn là anh Lê Ngọc L đã được nhận thông báo về việc thụ lý vụ án, được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo nên Tòa án không thu thập được nguyện vọng của anh Lê Ngọc L.
Tại Biên bản xác minh ngày 11/11/2022, UBND thị trấn L, huyện V, tỉnh Thanh Hóa nơi Chị Th và Anh L đăng ký hộ khẩu thường trú cho biết: Chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại khu phố 1, thị trấn L, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng Chị Th, Anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên Chị Th bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại xã Vĩnh Long ở, Anh L đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về địa phương. Tòa án đã kết hợp với chính quyền địa phương tống đạt các văn bản tố tụng cho Anh L qua ông Lê Văn Hoạt là bố đẻ của Anh L, ông Hoạt đã giao đầy đủ lại cho Anh L nhưng Anh L cố tình trốn tránh vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa chị Hà Thị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa cũng đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Anh L nhưng tại phiên tòa ngày 09/02/2023 Anh L vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa như sau:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình và tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Th, xử cho chị Hà Thị Th được ly hôn anh Lê Ngọc L.
- Về án phí: Chị Hà Thị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa vµ trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hà Thị Th có đơn khởi kiện về việc ly hôn đối với anh Lê Ngọc L có hộ khẩu thường trú tại khu phố 1, thị trấn L, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án: “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Anh Lê Ngọc L đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lê Ngọc L là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 12/8/2013. Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do vợ chồng không hiểu về nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong công việc làm ăn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất từ tháng 02/2022 nên Chị Th bỏ về nhà mẹ đẻ tại xã Vĩnh Long ở, Anh L đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về địa phương nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị Hà Thị Th xét thấy đến nay tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Lê Ngọc L không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với Anh L. Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Ngọc L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa mà không có lý do, điều đó thể hiện anh Lê Ngọc L không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết vụ án, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị Th được ly hôn anh Lê Ngọc L là phù hợp.
. Về con chung: Chị Hà Thị Th và anh Lê Ngọc L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản, công nợ và các nghĩa vụ khác: Chị Hà Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Hà Thị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 5, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Th được ly hôn anh Lê Ngọc L.
2. Về án phí: Chị Hà Thị Th phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số AA/2021/0004769 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. (Chị Th đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm).
Chị Hà Thị Th có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Ngọc L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - UBND xã Vĩnh Long; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Lộc - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Sơn |