- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị N - Nguyễn Nguyên D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-01-2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và bà Phan Thị Kim Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/11/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 gi a các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1988 – có mặt.
Địa chỉ: Bon LA, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nguyên D, sinh năm 1984 – có mặt.
Địa chỉ: Bon LA, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: Chị N và anh D kết hôn năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông, việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, nên vợ chồng thường hay cãi vã xúc phạm lẫn nhau; kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến vợ chồng hay xảy ra xung đột cãi vã. Ngoài ra, vợ chồng còn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay.
Chị N cho rằng tình cảm đối với anh D không còn, hai bên đã không còn quan tâm gì đến nhau, cuộc sống hôn nhân của anh chị không thể hoà hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức giải quyết cho ly hôn với anh D.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Mạnh Q, sinh ngày 22/4/2021, hiện đang sinh sống cùng chị N. Chị N đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tọa, chị N gi nguyên yêu cầu khởi kiện.
Lời khai của Anh Nguyễn Nguyên D trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Anh D thừa nhận việc kết hôn với chị Trần Thị N, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện như chị N trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Mạnh Q, sinh ngày 22/4/2021, hiện đang sinh sống cùng chị N.
Anh D hoàn toàn đồng ý với ý kiến, yêu cầu của chị N về mâu thuẫn của vợ chồng. Anh D khẳng định tình cảm vợ chồng với chị N không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, vợ chồng có 01 con chung nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh D được nuôi con chung đến tuổi trưởng thành vì chị N không biết cách chăm sóc con. Nếu chị N không đồng ý giao con chung cho anh nuôi dưỡng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu quan điểm: Toà án nhân dân huyện Tuy Đức thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho nh ng người tham gia tố tụng đúng quy định, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N, cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Nguyên D.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Trần Mạnh Q, sinh ngày 22/4/2021 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002371 ngày 07/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết vào quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Nguyên D có nơi cư trú tại Bon LA, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông do đó đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của chị N với anh D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 25/9/2020, chị Trần Thị N và anh Nguyễn Nguyên D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân gi a chị N và anh D là hợp pháp.
Xét thấy, cả chị N và anh D đều cho rằng cuộc sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài và đã sống ly thân từ đầu năm 2022, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, khó khăn về kinh tế và mâu thuẫn trong cách chăm sóc con chung. Chị N khẳng định hiện nay không còn tình cảm và không còn quan tâm đến anh D nên yêu cầu giải quyết ly hôn, anh D cũng đồng ý ly hôn với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy, với thực trạng hôn nhân nói trên cho thấy mâu thuẫn gi a chị N và anh D đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị N với anh D là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Nguyên D đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trần Mạnh Quân, sinh ngày 22/4/2021 đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, cả chị N, anh D đều đủ điều kiện nuôi con và không thuộc trường hợp bị hạn chế nuôi con. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Trần Mạnh Q hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi, đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vì vậy, cần giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Nguyên D.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Mạnh Q, sinh ngày 22/4/2021 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Nguyên D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai có quyền ngăn cản. Nếu anh D lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con là chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh D.
Chị Trần Thị N, anh Nguyễn Nguyên D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng khi cần thiết.
3. Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0002371 ngày 07/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Tuy Đức; - Chi cục THADS huyện Tuy Đức; - UBND xã QT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký, đóng dấu) Nguyễn Xuân Triệu |