- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Th xin ly hôn anh Hoàng Văn Kh"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI Tỉnh Thái Bình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ- ST Ngày: 05/01/2023 V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Quảng.
2. Bà Tạ Thị Minh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dinh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 175/2022/TLST- HNGĐ ngày 17/10/2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXX- ST ngày 05/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2022 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Kh, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Chị Th có mặt tại phiên tòa; anh Kh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị Th và anh Kh kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 12/11/2002. Sau khi kết hôn, chị Th và anh Kh chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, anh Kh có quan hệ với người phụ nữ khác. Từ năm 2016 cho đến nay chị Th và anh Kh sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Năm 2019 chị Th đã nộp đơn xin ly hôn anh Kh tại Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải nhưng do lúc đó dịch covid 19 diễn biến phức tạp, chị đi làm ở Quảng Ninh không thể về Tòa án để giải quyết vụ án được nên chị đã rút đơn xin ly hôn anh Kh, nhưng từ khi chị rút đơn xin ly hôn anh Kh cho đến nay, chị và anh Kh vẫn không liên lạc với nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Th đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho chị Th được ly hôn với anh Kh.
Về con chung: Chị Th và anh Kh có 03 con chung là Hoàng Minh Ng, sinh ngày 19/11/2003, Hoàng Huy H, sinh ngày 27/12/2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 01/7/2011. Con Hoàng Minh Ng trên 18 tuổi, có việc làm ổn định nên chị Th không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L, chị Th không yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.
Về tài sản chung, công nợ: Chị Th không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/11/2022 bị đơn là anh Hoàng Văn Kh trình bày: Anh Kh và chị Th tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 12/11/2002 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 16 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp. Anh và chị Th hiện tại sống ly thân. Nay chị Th có đơn xin ly hôn anh Kh, quan điểm của anh Kh cũng đồng ý ly hôn với chị Th. Về con chung: Anh Kh và chị Th có 03 con chung là Hoàng Minh Ng, sinh năm 2003, Hoàng Huy H, sinh năm 2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh năm 2011. Sau khi ly hôn anh cũng đồng ý để 02 con chung Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Kh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 18/11/2022, Ủy ban nhân xã T cung cấp như sau: Anh Hoàng Văn Kh và chị Nguyễn Thị Th có hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Anh Kh và chị Th tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 12/11/2002 tại Ủy ban nhân dân xã T. Hiện tại chị Th và anh Kh sống ly thân. Về con chung: Chị Th và anh Kh 03 con chung là Hoàng Minh Ng, sinh năm 2003, Hoàng Huy H, sinh năm 2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh năm 2011. Về tài sản chung, nợ chung: Chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc xin ly hôn giữa chị Th và anh Kh theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không tham gia phiên tòa.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh; về con chung: Giao 02 con chung Hoàng Huy H, sinh ngày 27/12/2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 01/7/2011 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Hoàng Văn Kh có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Văn Kh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Văn Kh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tại thời điểm kết hôn, chị Th và anh Kh đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị Th và anh Kh chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Kh vì tình cảm vợ chồng không còn. Bị đơn là anh Kh cũng đồng ý ly hôn với chị Th. Xét thấy, hiện tại chị Th và anh Kh không chung sống cùng nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Như vậy, hôn nhân của chị Th và anh Kh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, giải quyết cho chị Th được ly hôn với anh Kh là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị Th và anh Kh có 03 con chung là Hoàng Minh Ng, sinh ngày 19/11/2003, Hoàng Huy H, sinh ngày 27/12/2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 01/7/2011. Sau khi ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L, chị Th không yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th. Đối với con Hoàng Minh Ng đã trên 18 tuổi, chị Th không đề nghị Tòa án giải quyết. Bị đơn là anh Kh cũng đồng ý để 02 con chung Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L cho chị Th nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Hoàng Minh Ng là con chung của chị Th và anh Kh đã trên 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng con chung, đối với cháu Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L trên 07 tuổi đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ và quan điểm của anh Kh cũng đồng ý để hai con chung cho chị Th nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, giao 02 con chung của chị Th và anh Kh là cháu Hoàng Huy H và Hoàng Thị Phương L cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
. Về tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5, khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh.
2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Hoàng Huy H, sinh ngày 27/12/2009 và Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 01/7/2011. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Anh Hoàng Văn Kh có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
3/ Về tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Th đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002512 ngày 17/10/2022.
5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/01/2023)
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |