vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nuôi con chung: Không giải quyết. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án xét xử cho ly hôn giữa ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 01 - 2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Cường và bà Hoàng Thị Tường Vy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXX-ST ngày 19 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Ngô Thị V, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 22 tháng 8 năm 2022 được bổ sung tại bản tự khai và quá trình giải quyết, xét xử vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Đ trình bày: Ông và bà Ngô Thị V tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 11-8-2011. Sau khi kết hôn vợ chồng không sống chung mà sống riêng, Ông ở Quảng Trị còn bà V ở V, Q, Quảng Bình nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, Ông xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, hai người đã sống ly thân từ lâu nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Ông được ly hôn bà Ngô Thị V.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 11 tháng 11 năm 2022, Bị đơn bà Ngô Thị V trình bày: Bà và ông Nguyễn Đăng Đ tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 11 tháng 8 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung tại thôn Đ, xã V được một thời gian thì vợ chồng chuyển vào huyện V, tỉnh Quảng Trị quê của ông Đ sinh sống. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, hai người đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay, Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông Đ xin ly hôn Bà hoàn toàn đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Đăng Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Ngô Thị V có địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện Q. Vì vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Đ và Bị đơn bà Ngô Thị V có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại cơ quan có thẩm quyền, như vậy hôn nhân của Ông, Bà là hợp pháp. Do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau. Hai người đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Ông Đ và bà V đều xác định tình xảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Đăng Đ.

Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V xác định không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Đăng Đ phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Xử cho ly hôn giữa ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V.

2. Về nuôi con chung: Không giải quyết.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Nguyễn Đăng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Số tiền án phí ly hôn ông Đ phải nộp được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án huyện Quảng Ninh theo biên lai số 31AA/2021/0003905, ngày 10 tháng 10 năm 2022.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Đăng Đ và bà Ngô Thị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ