vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị K B đối với ông Huỳnh P C.

Về hôn nhân: Cho bà Bùi Thị K B ly hôn ông Huỳnh P C. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Huỳnh Thị K Y2, sinh ngày 29-10-2010 và Huỳnh P C, sinh ngày 16-02-2015 cho bà Bùi Thị K B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị K B "Tranh chấp ly hôn" Huỳnh P C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị K B đối với ông Huỳnh P C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-01-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Hiệp

Ông Võ Ngọc Bột

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 79/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị K B, sinh năm 1987, địa chỉ: xã T, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh P C, sinh năm 1986, địa chỉ: xã T, huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An.

Bà Bùi Thị K B có mặt, ông Huỳnh P C vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Bùi Thị K B trình bày: Bà B và ông C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 28-12-2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 03 con chung gồm Huỳnh Thị K Y1, sinh ngày 06-4-2004; Huỳnh Thị K Y2, sinh ngày 29-10-2010 và Huỳnh P C, sinh ngày 16-02-2015. Đến năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn vì vợ chồng không còn hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau, bà B và ông C đã ly thân cho đến nay. Sau khi ly thân, bà B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung cho đến nay.

Nay bà B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh P C.

Về con chung: Khi ly hôn, bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà B trình bày không có.

- Ý kiến của bị đơn ông Huỳnh P C: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Huỳnh P C vắng mặt và không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Bùi Thị K B và ông Huỳnh P C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An vào ngày 28-12-2005 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị K B và ông Huỳnh P C là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Bùi Thị K B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Huỳnh P C cư trú tại xã T, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn ông Huỳnh P C:

Xét thấy ông Huỳnh P C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Huỳnh P C.

Về hôn nhân:

Tại phiên tòa, bà B xác định không còn tình cảm với ông C, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài và cương quyết yêu cầu được ly hôn. Xét thấy ông C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên có đủ căn cứ xác định ông C không quan tâm, không có thiện chí, không mong muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn đoàn tụ với bà B. Như vậy căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, lời trình bày của bà B về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà B và ông C đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung:

Bà B và ông C có 03 con chung gồm Huỳnh Thị K Y1, sinh ngày 06-4-2004; Huỳnh Thị K Y2, sinh ngày 29-10-2010 và Huỳnh P C, sinh ngày 16-02-2015. Bà B yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên, đối với con chung đã thành niên bà B không yêu cầu giải quyết.

Xét thấy bà B là người đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các con chung, tránh thay đổi môi trường sống, môi trường học tập nên cần giữ nguyên việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung như hiện tại. Ngoài ra, ông C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và yêu cầu tranh chấp nuôi các con chung. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung chưa thành niên là Huỳnh Thị K Y2 và Huỳnh P C là đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các con chung.

Đối với con chung Huỳnh Thị K Y1 đã thành niên, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà B không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông C không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà B trình bày không có, ông C không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị K B phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Huỳnh P C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị K B đối với ông Huỳnh P C.

- Về hôn nhân: Cho bà Bùi Thị K B ly hôn ông Huỳnh P C.

- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Huỳnh Thị K Y2, sinh ngày 29-10-2010 và Huỳnh P C, sinh ngày 16-02-2015 cho bà Bùi Thị K B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí: Bà Bùi Thị K B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010507 ngày 31 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị K B có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh P C có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

Cỡ chữ