vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thu L. 2. Về con chung: Giao cháu Hà Nguyễn Thảo V, sinh ngày 07/11/2011 cho bà Nguyễn Thu L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/01/2023
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn.

2. Bà Tăng Thị Bạch Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 03/01/2023, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 320/2022/TLST–HNGĐ ngày 14/10/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 365/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 284/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thu L, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày: Vào năm 2011 ông và bà L tự nguyện cưới nhau, và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Hà Nguyễn Thảo V, sinh ngày 07/11/2011, hiện nay đang sống chung với bà L.

Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng thời gian sau này thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Nhận thấy vợ chồng không còn duyên nợ, hôn nhân không tồn tại được nên ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Ông T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thu L.

- Về con chung: Ông T đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Cháu V đã đồng ý ở với mẹ nhưng không chịu về nên ông không thể cung cấp lời khai của cháu V cũng như không đưa cháu V đến Tòa án để cung cấp lời khai được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thu L: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết cho đến nay, bà L không tham gia tố tụng nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của bà L.

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không tham gia tố tụng nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành nghiêm theo Giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn T và bà Nguyễn Thu L kết hôn năm 2011 trên tinh thần tự nguyện và được UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/5/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung sống, ông T và bà L thường hay cãi vả, bất đồng quan điểm sống. Nay ông T kiên quyết ly hôn là quyền tự định đoạt của ông T theo quy định tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của ông T là có sơ sở chấp nhận.

Về con chung: Cháu Hà Nguyễn Thảo V, sinh ngày 07/11/2011 hiện sống chung với bà L từ tháng 5/2012. Ông T đồng ý giao cháu V cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu V, cần giao cháu cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng, bà L không có ý kiến nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này đương sự yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ những căn cứ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hà Văn T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà L chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông T và bà L phát sinh nhiều mâu thuẫn, ly thân từ năm 2013 đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, ông T và bà L sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, ly thân đã lâu. Bà L cũng không đến Tòa tham gia tố tụng, không tham gia hòa giải nên chưa có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

Về con chung: Ông T và bà L có 01 con chung tên Hà Nguyễn Thảo V, sinh ngày 07/11/2011, hiện nay đang sống chung với bà L. Xét thấy, cháu V sống với bà L đã lâu và ông T đồng ý tiếp tục giao cháu V cho bà L nuôi dưỡng, bà L cũng không thể hiện sự phản đối. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử cần ổn định môi trường sống của cháu. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần giao cháu V cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng, bà L không có ý kiến nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này đương sự yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách như đã phân tích trên.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228, 238; Điều 271, 273; Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

TUYÊN XỬ:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thu L.

1.2. Về con chung: Giao cháu Hà Nguyễn Thảo V, sinh ngày 07/11/2011 cho bà Nguyễn Thu L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Ông Hà Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, ông Hà Văn T phải chịu là 300.000 đồng, được khấu trừ vào Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004719 ngày 06/10/2022 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã thu.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ