vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Mđối với anh Ung Đức N. Chị Hoàng Thị M được ly hôn với anh Ung Đức N. Về con chung: Giao cháu Ung Đức D - sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị Hoàng Thị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Ung Đức … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HTB
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 05/01/2023.
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTB,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Q

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh S

2. Cao Thị Kim Y

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H– Thư ký Toà án nhân dân huyện HTB, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HTB, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 439/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/7/2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2022 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M – sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn PT, xã HT, huyện HTB – Bình Thuận

*Bị đơn: Anh Ung Đức N – sinh năm 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn KN, xã HT, huyện HTB – Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14/6/2022 cũng như lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Mtrình bày: Chị và anh Ung Đức N tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện HTB. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà chồng được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh N không chịu làm ăn mà hay nhậu nhẹt rồi đánh đập vợ con dẫn đến cải nhau. Mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa đề nghị ly hôn với anh Ung Đức N. Về con: vợ chồng có 01 con tên Ung Đức D - sinh ngày 18/01/2018 khi ly hôn chị Mxin được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Ung Đức N vắng mặt nên không có trình bày gì.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Ung Đức N để tống đạt văn bản tố tụng, nhưng anh Ung Đức N không đến Tòa án huyện để tham gia phiên Tòa. Do đó, vụ án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của anh Ung Đức N không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì anh Ung Đức N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt chứng tỏ anh đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện N vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Ung Đức N.

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2022 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã HT, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện HTB có thẩm quyền giải quyết.

2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Hoàng Thị Mthì chị và anh Ung Đức N sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Hoàng Thị Mkhai nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Ung Đức N không làm ăn mà hay nhậu nhẹt rồi đánh đập vợ con dẫn đến cải nhau, nhận thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc và không thể kéo dài. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Hoàng Thị Mvà anh Ung Đức N rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Mai.

3. Về con chung: Chị Hoàng Thị Mkhai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 01 con tên Ung Đức D - sinh ngày 18/01/2018 đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin được nuôi cháu 01 con tên Ung Đức D - sinh ngày 18/01/2018 và không yêu cầu anh Ung Đức N cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

4. Về tài sản và nợ: Chị Hoàng Thị M không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.

5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Hoàng Thị M không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng chị là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Ung Đức N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2.Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Mđối với anh Ung Đức N. Chị Hoàng Thị M được ly hôn với anh Ung Đức N.

- Về con chung: Giao cháu Ung Đức D - sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị Hoàng Thị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Ung Đức N có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về án phí, lệ phí: Chị Hoàng Thị M là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị Hoàng Thị M đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0010975 ngày 20/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện HTB, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Ung Đức N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Mcó quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Ung Đức N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Cỡ chữ