vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị N và ông Lê Văn T. Về con chung: Giao con chung là Lê Trần Thanh K, sinh ngày 14/5/2005 và Lê Trần Thúy K, sinh ngày 05/9/2008 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn T và giành quyền nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 31-01-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọ;

2. Ông Phan Quang Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Trâm-Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm: 1974; địa chỉ: Số 75 Đường số 12, Thôn 3, xã TĐ, huyện HT, tỉnh BT(vắng mặt);

2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1968; địa chỉ: Số 75 Đường số 12, Thôn 3, xã TĐ, huyện HT, tỉnh BT(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 06/10/2022, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Lê Văn T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 tại Thôn 3, xã TĐ, huyện HTnhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình sống chung, bà Nvà ông Tthường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân là do ông Tkhông lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu say xỉn; mặc dù bà nhiều lần khuyên can nhưng ông Tvẫn không thay đổi. Hiện nay bà Nkhông còn tình cảm với ông Tnữa. Do đó, bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Lê Văn T.

Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Lê Văn T có với nhau 02 con chung gồm: Lê Trần Thanh K, sinh ngày 14/5/2005 và Lê Trần Thúy K, sinh ngày 05/9/2008. Bà Nyêu cầu Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Bà Trần Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Văn T trình bày:

Ông Lê Văn T thống nhất với lời trình bày của bà Nvề quan hệ hôn nhân, ông và bà Nsống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Nay ông Tvẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn. Từ trước đến nay ông không đăng ký kết hôn với ai.

Quá trình sống chung, giữa ông và bà Ncó với nhau 02 con chung như bà Ntrình bày. Trường hợp Tòa án cho bà Nly hôn với ông thì ông đồng ý giao các con chung cho bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng, ông không có khả năng kinh tế nên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: trình tự, thủ tục giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị N và ông Lê Văn T, giao các con chung cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời quyết định án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Lê Văn T; yêu cầu Tòa án giao con chung là Lê Trần Thanh K, sinh ngày 14/5/2005 và Lê Trần Thúy K, sinh ngày 05/9/2008 cho bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con, do bị đơn có nơi cư trú tại Thôn 3, xã TĐ, huyện HTnên Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là chưa chính xác nên cần điều chỉnh lại quan hệ pháp luật như nhận định trên cho phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Lê Văn T đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Theo bà Trần Thị N thì giữa bà và ông Lê Văn T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình sống chung, giữa bà Nvà ông Tphát nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà Nyêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Thi. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nga, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, lời khai của bị đơn, các giấy khai sinh của các con chung của bà Nvà ông Thi, Biên bản xác minh ngày 04/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, có cơ sở để khẳng định bà Nvà ông Tsống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 tại Thôn 3, xã Tân Đức nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị N, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nvà ông Tnhư ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Lê Văn T có với nhau 02 con chung gồm: Lê Trần Thanh K, sinh ngày 14/5/2005 và Lê Trần Thúy K, sinh ngày 05/9/2008. Khi ly hôn, bà Ncó nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy các con chung hiện đang sống với bà Nvà do bà trực tiếp nuôi dưỡng, các con đều có nguyện vọng ở với bà Nga, nghĩ nên giao các con chung cho bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi của con chung và phù hợp với ý chí của bị đơn .

[5] Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích quyền yêu cầu cấp dưỡng của bà Nđể bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà Nvẫn không yêu cầu Tòa án buộc ông Tcấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị N và ông Lê Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Trần Thanh K, sinh ngày 14/5/2005 và Lê Trần Thúy K, sinh ngày 05/9/2008 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Lê Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Huyền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010422 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Tân. Bà Trần Thị N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Án xử công khai sơ thẩm, bà Trần Thị N, ông Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ