vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Quách Văn A.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung gồm Quách Nguyễn Anh T, sinh ngày 26/9/2011 và Quách Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 08/6/2014 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Ông Quách Văn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc thăm nom, chăm sóc, nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hảo an"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Quách Văn A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAM RÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 3 - 2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lê Công Trọng

2. Bà: K’Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đam Rông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa: Ông K’Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày số 01/TB-TA ngày 01 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn TT, xã ĐK’N, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng.

Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Quách Văn A, sinh năm: 1984

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi Tòa án tuyên bố mất tích: Thôn TT, xã ĐK’N, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Quách Văn A tự nguyện quen biết tìm hiểu nhau một thời gian thì đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã BT, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng

Sau khi tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán xong thì vợ chồng bà làm ăn sinh sống tại địa phương; đến năm 2015 thì chuyển vào thôn TT, xã ĐK’N, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng lập nghiệp cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung; Hiện nay, bà đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Tuy nhiên, sau khi sinh con thứ hai được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt; dẫn đến tháng 03 năm 2018 thì ông A bỏ nhà đi từ đó cho đến nay không quan tâm lo cho cuộc sống gia đình; hiện không biết ông A đang làm gì ở đâu. Đến năm 2022 thì bà làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối vối ông Quách Văn A và Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã giải quyết theo Quyết định số 01/2022/QĐDS – ST ngày 01/7/2022; tuyên bố ông Quách Văn A mất tích.

Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Quách Văn A

Về con chung: Có 02 người con chung gồm Quách Nguyễn Anh T, sinh ngày 26/9/2011 và Quách Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 08/6/2014. Hiện nay đang ở cùng bà; sau khi ly hôn bà nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Quách Văn A phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có.

* Bị đơn ông Quách Văn A đã bị tuyên bố mất tích tại Quyết định 01/2022/QĐDS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng.

Tòa án nhân dân huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng không tiến hành hòa giải được do ông A mất tích và bà H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về quan hệ hôn nhân bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Quách Văn A;

Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, công bố tại phiên toà\. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Quách Văn A là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình; vợ chồng có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn là ông A có nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích tại thôn TT, xã ĐK’N, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Quách Văn A đã bị tuyên bố mất tích, Tòa án đã tiến hành niêm yết, thông báo, các văn bản tố tụng theo quy định nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông An theo thủ tục chung.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà H: Bà H xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hơn nữa, ông A đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông A. Do vậy, cần căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung gồm Quách Nguyễn Anh T, sinh ngày 26/9/2011 và Quách Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 08/6/2014. Hiện các con đang tuổi đến trường và sinh sống cùng bà. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung cho đến tuổi trưởng thành nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung. Bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên Tòa án không đặt ra để xem xét giải quyết; nếu sau này bị đơn trở về và có phát sinh tranh chấp thì được giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục chung.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; 39; Điều 147; 203; 227, 228; 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Quách Văn A.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung gồm Quách Nguyễn Anh T, sinh ngày 26/9/2011 và Quách Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 08/6/2014 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Ông Quách Văn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; Thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có; bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên Tòa án không đặt ra để xem xét giải quyết. Nếu sau này bị đơn trở về và có phát sinh tranh chấp thì được giải quyết bằng vụ án.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010156 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Bà H đã nộp xong.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt đã bị tuyên bố mất tích thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ