- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIN LY HON Y LUAN-KIEN"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 10/01/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Luận
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc – Kiểm sát viên
Ngày 10/01/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2022, và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Y L, sinh năm 1992 (Có mặt);
- Bị đơn: Anh A K, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Y L trình bày:
Chị và anh A K kết hôn ngày 08/6/2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Lem, huyện Đăk Tô. Sau khi kết hôn được khoàng 01 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, đến khoảng tháng 9 năm 2020, thì mâu thuẫn càng gay gắt, vợ chồng đã sống ly thân, do anh Kiên thường xuyên uống rượu say xỉn về gây sự với vợ con trong thời gian dài, đánh đập vợ, không có trách nhiệm với gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ, nhờ sự can thiệp của Công an xã, chính quyền thôn, đã một lần nộp đơn ly hôn nhưng rút lại để anh Kiên thay đổi nhưng không có kết quả. Hiện tại cả hai đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Y Linh Chi, sinh ngày 15/3/2010, A Lý Kiệt, sinh ngày 31/3/2014 và A Minh Lãng, sinh ngày 17/10/2019. Khi ly hôn chị Y L yêu cầu được nuôi 02 con là Y Linh Chi và A Minh Lãng, anh A K nuôi cháu A Lý Kiệt.
Ngày 16/11/2022, trước phiên kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị Y L xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị được nuôi cả 03 con chung, không yêu cầu anh A K cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh A K trong quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án làm việc, không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có lời khai.
Tại phiên tòa chị Y L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
1. Về việc thực hiện thủ tục Tố tụng của Tòa án và các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Xét tình trạng hôn nhân của chị Y L và anh A K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Vì vậy, Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y L.
- Về con chung: Anh A K có hành vi bạo lực gia đình bị xử phạt hành chính, không có trách nhiệm với vợ con, vì vậy đề nghị giao con chung là Y Linh Chi, sinh ngày 15/3/2010, A Lý Kiệt, sinh ngày 31/3/2014 và A Minh Lãng, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Y L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí: Chị Y L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đơn khởi kiện đề ngày 04/10/2022 của chị Y L yêu cầu giải quyết ly hôn với anh A K, cả hai cư trú tại xã V, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, anh A K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối nhận và vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Y L và anh A K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Vtheo trích lục kết hôn số 516/TLKH-BS ngày 19/7/2021 của UBND xã Văn Lem, huyện Đ, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do anh Kiên thường xuyên uống rượu say xỉn, gây gổ, đánh đập vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, khoảng tháng 9/2020 đến nay thì vợ chồng sống ly thân. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân nơi cư trú của các đương sự thấy rằng, vợ chồng hay xãy ra mâu thuẫn, cãi vã, không còn chung sống với nhau. Tháng 7/2021, A K bị UBND xã V, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác và sử dụng công cụ, phương tiện gây thương tích cho thành viên trong gia đình. Mặt khác, chị Y L cũng đã nộp đơn ly hôn một lần nhưng đã rút lại để anh Kiên có cơ hội sửa chữa nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, anh Kiên không hợp tác, không lên Tòa án làm việc, không có thiện chí để hòa giải đoàn tụ.
Từ những phân tích trên thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau đề xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị Y L được ly hôn với anh Kiên.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Y Linh Chi, sinh ngày 15/3/2010, A Lý Kiệt, sinh ngày 31/3/2014 và A Minh Lãng, sinh ngày 17/10/2019. Hiện tại cả ba cháu đang ở với mẹ, anh Kiên là cha nhưng không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho con, bị xử phạt hành chính về hành vi bạo lực gia đình. Hiện cháu Lãng còn nhỏ, cháu Chi và cháu Kiệt đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Chị Luân có thu nhập để đảm bảo cho việc nuôi dạy con. Vì vậy, giao các con chung cho chị Y L nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y L
1. Về hôn nhân: Chị Y L được ly hôn với anh A K.
2. Về con chung: Giao 03 con chung là Y Linh Chi, sinh ngày 15/3/2010, A Lý Kiệt, sinh ngày 31/3/2014 và A Minh Lãng, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Y L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và tự lập được. Anh A K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh A K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Y L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0002529 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Chị Y L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/01/2023). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc khi bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đăk Tô; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Chi cục THA dân sự huyện Đăk Tô; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huy |