- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Yên - Phạm Hùng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 10/01/2023 “V/v: tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Mạnh, bà Cao Thị Hồng Châu
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2022/TLST–HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2022, về việc: “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXX-ST ngày 02/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/20221//QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y – Sinh năm: 1984
(Có mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm H – Sinh năm: 1985
(Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 04A A Th, TDP 6, TT QP, huyện CM, tỉnh ĐL.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y với anh Phạm H đến với nhau trên cơ sở hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/9/2014 tại UBND phường BT, thị xã BH, tỉnh ĐL. Quá trình chung sống vợ chồng đã có với nhau 01 con chung, là cháu Phạm Gia Tấn Ph, sinh ngày 16/6/2015, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hiện nay đang sống cùng chị Y.
Về tình cảm vợ chồng, lúc đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm và lối sống; thường xuyên cải vả, xung đột với nhau. Anh H bộc lộ tính cách xa đà rượu chè và bạo hành gia đình, vì con nên chị Yên chịu đựng nhưng do sức chịu đựng có hạn nên vào năm 2019, vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng quyết định ly thân từ đó cho đến nay.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn, vì vậy chị Y đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh Phạm H.
Về con chung: Chị Y có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Phạm Gia Tấn Ph, sinh ngày 16/6/2015 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Đồng thời không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí LHST: Chị Y phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn anh Phạm H:
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã nhiều lần Tòa án niêm yết giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Phạm H theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Phạm H cố tình lẩn tránh, không đến tòa làm việc nên không ghi nhận được lời khai cũng như ý kiến của anh Phạm H.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án:
Đối với Thẩm phán: Về cơ bản đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Tuy nhiên vẫn còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.
Về nội dung: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn là “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”; Theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, cũng như kết quả xác minh thì anh Phạm H có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Tổ dân phố 6, thị trấn QP, huyện CM, tỉnh ĐL, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Mặc dù được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y với anh Phạm H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình. Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân, giữa chị Y và anh H nảy sinh nhiều mâu thuẫn mà các bên không có biện pháp hòa giải hay ý thức khắc phục và thực tế giữa chị Y và anh H cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị Y khẳng định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu ly hôn của chị Y là chính đáng nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Y với anh Phạm H có 01 con chung là cháu Phạm Gia Tấn Ph, sinh ngày 16/6/2015. Hiện nay cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng chị Y. Từ khi vợ chồng sống ly thân (2019) cho đến nay anh H không có trách nhiệm gì, không phụ giúp chị Y trong việc nuôi dưỡng con chung. Nguyện vọng của chị Y được quyền trực tiếp nuôi con, nguyện vọng của cháu Tấn Ph cũng muốn ở với mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử cần giao cháu Phạm Gia Tấn Ph, sinh ngày 16/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Y không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yên.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Phạm H.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Gia Tấn Ph, sinh ngày 16/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chưa thành niên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đương sự yêu cầu
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo số AA/2021/ 0013534 ngày 13/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cư M’gar;
- Chi cục THADS huyện Cư M’gar;
- Các đương sự;
(đã ký)
- UBND thị trấn Quảng Phú;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cư M’gar;
- Chi cục THADS huyện Cư M’gar;
- Các đương sự;
- UBND xã Ea H’đing;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cư M’gar;
- Chi cục THADS huyện Cư M’gar;
- Các đương sự;
- UBND TT Ea Pốk;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - Các đương sự; - UBND xã EaNa, H. Krông Ana; - Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Lợi Niê HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |