- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Lê Văn C về việc “Xin ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ- ST Ngày : 05- 01- 2023 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DÔNG
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Quế
2. Ông Đỗ Đức Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 232/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 51/2022/ QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1966
Địa chỉ: Số 189/7C, đường Nguyễn Công Trứ, phường 2, thành phố Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1967
Địa chỉ: Thôn 6, xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà Lê Thị T có mặt; ông Lê Văn C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/7/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Lê Văn C chung sống với nhau từ năm 1990 tại xã T Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, sau đó đến năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Việc chung sống là hoàn T tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Năm 1995 hai vợ chồng chuyển vào sinh sống tại xã Lộc Đức, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C thường xuyên uống rượu rồi về chửi bới, đánh đập vợ con. Năm 2000 bà T phát hiện ông C ngoại tình với người phụ nữ khác. Mặc dù đã khuyên ngăn nhưng ông C không nghe còn chửi bới xúc phạm bà T. Đến năm 2018 hai vợ chồng sống ly thân, từ đó đến nay không ai quan tâm ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, do vậy bà Lê Thị T yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà Lê Thị T trình bày quá trình chung sống bà và ông Lê Văn C có 03 người con chung là Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990, Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 và Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006. Ly hôn bà Lê Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà Lê Thị T không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Còn đối với con chung Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990, Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 đã trên 18 tuổi, có gia đình riêng, có công việc ổn định, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Lê Thị T trình bày bà và ông Lê Văn C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lê Thị T trình bày bà và ông Lê Văn C không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, triệu tập ông Lê Văn C làm việc nhưng ông C vắng mặt nên không có lời khai nào.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 31/10/2022 nhưng không thành do ông Lê Văn C vắng mặt và bà Lê Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Lê Thị T và ông Lê Văn C được ly hôn. Về con chung cần giao con chung là Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006 cho bà Lê Thị T chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, Bà T không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Đối với con chung Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990, Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 đã đủ 18 tuổi, có gia đình riêng, có công việc ổn định, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Lê Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
II. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp:
Bà Lê Thị T yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với ông Lê Văn C, có địa chỉ tại Thôn 6, xã Lộc A, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo L.
III. Về nội dung vụ án:
{1} Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Lê Văn C chung sống với nhau từ năm 1990 tại xã T Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, sau đó đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Việc chung sống là hoàn T tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Năm 1995 hai vợ chồng chuyển vào sinh sống tại xã Lộc Đức, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C thường xuyên uống rượu rồi về chửi bới, đánh đập vợ con. Năm 2000 bà T phát hiện ông C ngoại tình với người phụ nữ khác. Mặc dù đã khuyên ngăn nhưng ông C không nghe còn chửi bới xúc phạm bà T. Đến năm 2018 hai vợ chồng sống ly thân, từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, do vậy bà Lê Thị T yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông C.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành do ông Lê Văn C vắng mặt. Bên cạnh đó Tòa án tiến hành triệu tập ông T làm việc để hàn gắn tình cảm nhưng ông C từ chối nhận văn bản tố tụng và cũng không đến làm việc cũng như không tham gia phiên tòa, chứng tỏ ông C không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Theo bà T mâu thuẫn chính của vợ chồng là do ông C thường xuyên uống rượu rồi về chửi bới, đánh đập vợ con. Năm 2000 bà T phát hiện ông C ngoại tình với người phụ nữ khác. Mặc dù đã khuyên ngăn nhưng ông C không nghe còn chửi bới xúc phạm bà T. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hai người đã nhiều lần hòa giải nhưng không hàn gắn tình cảm được nên cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử bà Lê Thị T và ông Lê Văn C được ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.
{2} Về con chung: Xét lời khai của bà Lê Thị T, căn cứ vào giấy khai sinh bà Lê Thị T nộp cho Tòa án thì quá trình chung sống bà Lê Thị T và ông Lê Văn C có 03 người con chung là Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990, Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 và Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006. Ly hôn bà Lê Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006. Còn đối với 02 con chung là Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990 và Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 đã đủ 18 tuổi, có gia đình riêng, có công việc ổn định, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xem xét nguyện vọng của con chung là cháu Lê Bình Hà N hiện nay đã 17 tuổi thì thấy cháu N có nguyện vọng muốn ở với mẹ.
Xét nguyện vọng nuôi con và giao con của bà Lê Thị T là có cơ sở và đúng pháp luật, vì vậy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006 cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Bà Lê Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con do vậy Hội đồng xét xử không đề cấp đến.
Đối với 02 con chung là Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990 và Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 đã đủ 18 tuổi, có gia đình riêng, có công việc ổn định, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
{3} Về tài sản chung: Bà Lê Thị T trình bày quá trình chung sống hai người không có tài sản chung nên không có yêu cầu gì do vậy Hội đồng xét xử không đề cấp đến.
{4} Về nợ chung: Bà Lê Thị T trình bày quá trình chung sống hai người không có nợ chung nên không có yêu cầu gì do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
{5} Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 70, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Lê Văn C về việc “Xin ly hôn”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị T và ông Lê Văn C được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Bình Hà N, sinh ngày 05/6/2006 cho bà Lê Thị T chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà Lê Thị T không yêu cầu ông Lê Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với 02 con chung là Lê Thị Phượng N, sinh ngày 29/11/1990 và Lê Thị T Ngần, sinh ngày 09/9/1992 đã đủ 18 tuổi, có gia đình riêng, có công việc ổn định, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét.
“Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.
3. Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Lê Thị T đã nộp tại biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0009504 ngày 25/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Bà Lê Thị T đã nộp xong.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS huyện Bảo L; - UBND xã T S, huyện Ngọc L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Trần Thị Hà Vi |